
Giá vàng trong nước và thế giới
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Thứ Ba, 20/01/2026
Huyền Vy
01/08/2022, 11:26
Chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (PMI) Việt Nam trong tháng 7/2022 vẫn đạt trên ngưỡng 50 điểm tháng thứ mười liên tiếp, cho thấy các điều kiện kinh doanh tiếp tục mạnh lên. Tuy nhiên, với kết quả 51,2 điểm so với 54 điểm của tháng 6/2022, chỉ số cho thấy một mức cải thiện yếu hơn…
Ngày 1/8, S&P Global công bố báo cáo Chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam tháng 7/2022. Trong đó có 3 điểm nổi bật: Sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới tăng chậm hơn; Việc làm tăng lần thứ tư liên tiếp và tốc độ tăng chi phí đầu vào chậm lại.
Báo cáo chỉ rõ, ngành sản xuất của Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng vào đầu quý 3/2022, nhưng đã có những dấu hiệu cho thấy nhu cầu giảm. Do đó, sản lượng, số lượng đơn đặt hàng mới và việc làm đều tăng chậm hơn so với tháng 6.
Trong khi đó, tình trạng nguồn cung tiếp tục có dấu hiệu cải thiện. Thời gian giao hàng của nhà cung cấp đã kéo dài với mức độ ít đáng kể nhất kể từ tháng 9/2020, trong khi tốc độ lạm phát đã chậm lại nhiều.
Số lượng đơn đặt hàng mới đã tăng tháng thứ mười liên tiếp, nhưng tốc độ tăng đã chậm lại thành mức yếu nhất kể từ tháng 4. Trong khi đó, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng mạnh và nhanh hơn so với tổng số lượng đơn đặt hàng mới.
Số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng đã khuyến khích các nhà sản xuất tiếp tục tăng sản lượng trong tháng 7.
Sản lượng đã tăng tháng thứ tư liên tiếp. Tuy nhiên, tốc độ tăng chỉ là nhẹ và là chậm nhất trong thời kỳ tăng hiện nay khi có các dấu hiệu cho thấy tình trạng nhu cầu giảm, khó khăn trong khâu chuyển hàng và áp lực giá cả.
Mặc dù vậy, có những dấu hiệu cho thấy áp lực giá cả và nguồn cung đã chậm lại vào đầu quý 3.
Về giá cả, tốc độ tăng chi phí đầu vào chậm lại và là mức tăng yếu nhất kể từ tháng 10/2020 khi giá một số mặt hàng đầu vào đã giảm trên thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, mức tăng lần này vẫn cao hơn mức trung bình của chỉ số khi có các báo cáo cho biết chi phí dầu, khí đốt và vận tải tăng. Tương tự như vậy, giá cả đầu ra tiếp tục tăng nhưng tốc độ tăng đã chậm lại và mức tăng chỉ là nhẹ.
Thời gian giao hàng của nhà cung cấp gần như ổn định khi mức độ kéo dài thời gian giao hàng đã giảm tháng thứ hai liên tiếp thành mức yếu nhất trong 22 tháng. Ở những nơi thời gian giao hàng tiếp tục kéo dài, lý do được cho là do những vấn đề của khâu chuyển hàng và chi phí vận tải tăng.
Báo cáo của S&P Global cũng cho thấy, các nhà sản xuất tiếp tục tăng lực lượng lao động để đáp ứng yêu cầu sản xuất, và đây là tháng tăng thứ tư liên tiếp. Mức độ tạo thêm việc làm là mạnh mặc dù đã chậm lại so với mức cao của ba năm rưỡi được ghi nhận trong tháng 6. Trong khi đó, lượng công việc tồn đọng không thay đổi sau khi giảm trong tháng trước.
Cùng với việc tuyển thêm nhân viên, các công ty cũng tăng hoạt động mua hàng trong tháng 7 do số lượng đơn đặt hàng mới tăng và các công ty muốn tăng dự trữ hàng. Những nỗ lực tăng tồn kho hàng mua không có kết quả khi hàng tồn kho trước sản xuất đã giảm với tốc độ nhanh nhất trong hơn một năm.
Tồn kho thành phẩm cũng giảm, và đây là lần giảm thứ năm liên tiếp và tốc độ giảm là nhanh hơn tháng 6. Một số công ty đã giảm lượng hàng tồn kho trong bối cảnh số lượng đơn đặt hàng mới tăng chậm hơn, trong khi các công ty khác lại cho biết việc xuất khẩu hàng dễ dàng hơn.
Các nhà sản xuất vẫn lạc quan rằng sản lượng sẽ tăng trong 12 tháng tới. Tâm lý tích cực phản ánh hy vọng rằng nhu cầu khách hàng sẽ tiếp tục cải thiện, điều kiện thị trường ổn định, sự phát triển sản phẩm mới và hoạt động đầu tư kinh doanh. Gần 58% số người trả lời khảo sát lạc quan về triển vọng sản lượng, trong khi 11% cho rằng sẽ khó khăn.
Bình luận về kết quả khảo sát, ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, cho rằng đà tăng trưởng mạnh mẽ gần đây trong ngành sản xuất Việt Nam đã bị thay thế bằng mức tăng trưởng khiêm tốn hơn trong tháng 7, nhưng các công ty vẫn có thể có được số lượng đơn đặt hàng mới cao hơn và từ đó tăng tương ứng sản lượng và việc làm.
Mặc dù có một số dấu hiệu nhu cầu giảm, vẫn có những diễn biến khả quan về giá cả và áp lực từ phía cung. Tốc độ tăng chi phí đầu vào chậm lại nhiều, trong khi chuỗi cung ứng đã gần đạt sự ổn định. Mặc dù có những nhân tố tạo lực cản nghiêm trọng cho các công ty trong một giai đoạn kéo dài, hy vọng những dấu hiệu cải thiện sẽ thúc đẩy triển vọng sản lượng.
Trong tổng kim ngạch xuất khẩu 11,3 tỷ USD của toàn ngành thủy sản năm 2025, nhóm mặt hàng hải sản đóng góp 4,35 tỷ USD. Đáng chú ý, trong khi cá ngừ sụt giảm, thì các mặt hàng mực - bạch tuộc, cua và ghẹ lại tăng trưởng mạnh mẽ....
Thủ tướng yêu cầu tuyệt đối không để thiếu điện trong bất cứ tình huống nào trong năm 2026 và giai đoạn 2027-2030; đồng thời chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tập trung nguồn lực, tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các công trình điện trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế và đời sống Nhân dân...
Ngành gỗ đang tập trung minh bạch chuỗi cung ứng và đổi mới nội lực, quyết tâm hiện thực hóa mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 25 tỷ USD vào năm 2030.
“Điểm nghẽn” thủ tục sau khi Luật Hóa chất 2025 có hiệu lực khiến hàng loạt container nguyên liệu mắc kẹt tại cảng. Trước thực trạng này, Bộ Công Thương đã khẩn cấp cho phép tiếp nhận hồ sơ giấy nhằm khơi thông thông quan, giúp doanh nghiệp ổn định sản xuất và giảm thiểu thiệt hại trong giai đoạn chuyển tiếp...
Doanh nghiệp niêm yết
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: