Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố chiều 05/01/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý 4/2025 ước tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, IIP ước tăng 9,2% so với năm trước (năm 2024 tăng 8,2%), là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay.
Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,5% (năm 2024 tăng 9,5%), đóng góp 8,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,7% (năm 2024 tăng 9,5%), đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8% (năm 2024 tăng 10,6%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 0,5% (năm 2024 giảm 6,3%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm trong mức tăng chung.
Báo cáo của Cục Thống kê cũng cho biết chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng cao so với năm 2024, gồm: sản xuất xe có động cơ tăng 22,0%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 15,7%; sản xuất kim loại tăng 15,4%; sản xuất trang phục tăng 13,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 12,5%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 12,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 11,1%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,0%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 10,8%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 10,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 9,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 8,3%.
Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành tăng thấp hoặc giảm là khai thác than cứng và than non tăng 2,5%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 2,5%.
Về bức tranh sản xuất tại các địa phương cũng cho thấy sự tích cực khi chỉ số IIP năm 2025 so với năm 2024 tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao.
Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, ngành sản xuất và phân phối điện, ngành khai khoáng tăng thấp hoặc giảm.
Về sản phẩm công nghiệp chủ lực, Cục Thống kê ghi nhận năm 2025 tăng cao so với năm trước, dẫn đầu là ô tô tăng 39,1%; tiếp đến thép cán tăng 17,6%; tivi tăng 17,4%; thức ăn cho thủy sản và quần áo mặc thường cùng tăng 13,8%; xi măng tăng 13,6%; giày, dép da tăng 13,3%; thủy hải sản chế biến tăng 11,1%; phân hỗn hợp NPK tăng 10,7%.
Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với năm trước là khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 5,6%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 1,0%; bột ngọt giảm 0,2%.
Đối với chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2025, báo cáo của Cục Thống kê cho biết giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,9% so với năm 2024 (năm trước tăng 11,4%).
Về chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/12/2025 tăng 6,2% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,1% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 10,4%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân năm 2025 là 81,1% (năm 2024 là 77,1%).
Liên quan đến số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/12/2025, báo cáo của Cục Thống kê ghi nhận tăng 0,8% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,2% và giảm 0,6%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,8% và tăng 0,3%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,0% và tăng 3,3%.
Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng không đổi so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 1,1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% và tăng 2,4%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,1% và tăng 2,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,4% và tăng 0,7%.
Cùng một tấn chai nhựa hay vải vụn, nhưng có nhà tái chế bán được sản phẩm vào chuỗi cung ứng của các nhãn hàng dệt may quốc tế, trong khi doanh nghiệp khác chỉ có thể bán với giá thấp, dù đôi khi sử dụng hệ thống máy móc và nguồn thu mua tương tự…
Phát triển sản xuất sợi, vải, nhuộm, hoàn tất đạt chuẩn môi trường và phụ liệu trong nước là yêu cầu cấp thiết để doanh nghiệp dệt may tận dụng ưu đãi của các hiệp định thương mại tự do (FTA) và giữ ổn định đơn hàng…
Từ tàu hàng trọng tải lớn đến những tàu chuyên dụng phục vụ năng lượng ngoài khơi, ngành công nghiệp hàng hải Việt Nam đang mở rộng cả về quy mô lẫn trình độ kỹ thuật, tham gia sâu hơn vào thị trường thế giới…
Năm 2026, sản lượng cam, bưởi, táo, ổi của Bắc Ninh ước đạt 118.525 tấn, tăng 18,7% so với năm trước. Để nâng cao giá trị sản phẩm, địa phương đặt mục tiêu tăng cường liên kết chuỗi, chuẩn hóa vùng trồng và mở rộng thị trường tiêu thụ...
Niên vụ 2025-2026, xuất khẩu cà phê Việt Nam bứt phá mạnh về sản lượng khi đạt 1,8 triệu tấn, thu về 8,5 tỷ USD. Dù giá bán hạ nhiệt khiến kim ngạch chỉ tăng nhẹ 1%, nhưng phân khúc cà phê chế biến vẫn ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, đóng góp 1,5 tỷ USD vào tổng kim ngạch...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Với mục tiêu hoàn thành trong tháng 11 hoặc chậm nhất vào cuối tháng 12/2026, các nhà thầu thi công tuyến đường gần 1.500 tỷ đồng tại Thanh Hóa đang tăng cường nhân lực, máy móc, tổ chức nhiều mũi thi công đồng thời để đẩy nhanh tiến độ dự án.