Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 6/4/2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý 1/2025 ước tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước (quý 1/2024 tăng 5,9%).
Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,5% (quý 1/2024 tăng 6,0%), đóng góp 7,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,6%, đóng góp 0,4 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,6%, đóng góp 0,2 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 4,7%, làm giảm 0,7 điểm phần trăm trong mức tăng chung.
Báo của Cục Thống kê ghi nhận chỉ số sản xuất quý 1/2025 của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước, gồm: sản xuất xe có động cơ tăng 36,1%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 18,1%; sản xuất trang phục tăng 14,6%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,9%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 12,8%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,7%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 11,8%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa... tăng 11,0%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 10,6%; dệt tăng 9,9%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 8,6%.
Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm là khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 9,6%; sản xuất thiết bị điện giảm 1,1%; sản xuất đồ uống giảm 0,7%.
Về tình hình sản xuất công nghiệp của các địa phương trên cả nước trong quý 1/2025 so với cùng kỳ năm trước, báo cáo của Cục Thống kê cho biết tăng ở 59 địa phương và giảm ở 4 địa phương trên cả nước.
Trong đó, địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý 1/2025 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Phú Thọ tăng 44,0%; Bắc Kạn tăng 31,8%; Bắc Giang tăng 27,2%; Nam Định tăng 23,5%; Hà Nam tăng 18,6%; Tây Ninh tăng 16,1%; Huế tăng 14,0%.
Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao: Hòa Bình tăng 89,0%; Huế tăng 47,5%; Lai Châu tăng 35,3%; Trà Vinh tăng 22,2%; Hà Nam tăng 10,4%.
Ngược lại, các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý 1/2025 tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước, gồm: Lào Cai tăng 1,5%; Hà Tĩnh giảm 7,1%. Cao Bằng giảm 7,0%; Gia Lai giảm 0,5%.
Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện quý I/2025 tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước là Cao Bằng tăng 0,2%; Bình Thuận tăng 0,1%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 27,5%; Bạc Liêu giảm 18,9%; Lào Cai giảm 5,2%; Gia Lai giảm 1,7%.
Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành khai khoáng quý 1/2025 so với cùng kỳ năm trước giảm: Gia Lai giảm 18,5%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 11,5%; Sóc Trăng giảm 11,1%; Hà Nội giảm 5,4%.
Theo báo cáo của Cục Thống kê, trong quý 1/2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng so với cùng kỳ năm trước là ô tô tăng 81,5%; ti vi tăng 22,9%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 18,6%; phân hỗn hợp NPK tăng 15,8%; quần áo mặc thường tăng 14,3%; linh kiện điện thoại tăng 12,0%; giày, dép da tăng 9,1%; thức ăn cho thủy sản tăng 7,4%.
Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 12,9%; dầu mỏ thô khai thác giảm 6,4%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 2,4%; thép cán giảm 1,8%; điện thoại di động giảm 1,7%; sơn hóa học giảm 0,9%.
Về chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, báo cáo của Cục Thống kê cho thấy tháng 3/2025 tăng 6,5% so với tháng trước và tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý 1/2025, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2024 (cùng kỳ năm 2024 tăng 8,2%).
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/3/2025 tăng 5,9% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 15,1% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 14,1%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân quý I/2025 là 90,0% (bình quân quý I/2024 là 68,7%).
Về tình hình lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp, báo cáo của Cục Thống kê cho biết tại thời điểm 1/3/2025 tăng 1,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 4,8% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,1% và tăng 0,6%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,7% và tăng 3,1%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,4% và tăng 5,8%.
Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 0,4% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 1,1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,2% và tăng 5,2%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tương đương cùng thời điểm tháng trước và tăng lần lượt là 0,2% và 1,5% so với cùng thời điểm năm trước.
Bốn lô đất thuộc dự án thành phố Cảng hàng không quốc tế Long Thành – Airport City có tổng diện tích hơn 413.760 m², giá khởi điểm khoảng 418 tỷ đồng. Thời hạn thuê đất đến hết năm 2050, theo hình thức trả tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê...
Cùng một tấn chai nhựa hay vải vụn, nhưng có nhà tái chế bán được sản phẩm vào chuỗi cung ứng của các nhãn hàng dệt may quốc tế, trong khi doanh nghiệp khác chỉ có thể bán với giá thấp, dù đôi khi sử dụng hệ thống máy móc và nguồn thu mua tương tự…
Phát triển sản xuất sợi, vải, nhuộm, hoàn tất đạt chuẩn môi trường và phụ liệu trong nước là yêu cầu cấp thiết để doanh nghiệp dệt may tận dụng ưu đãi của các hiệp định thương mại tự do (FTA) và giữ ổn định đơn hàng…
Từ tàu hàng trọng tải lớn đến những tàu chuyên dụng phục vụ năng lượng ngoài khơi, ngành công nghiệp hàng hải Việt Nam đang mở rộng cả về quy mô lẫn trình độ kỹ thuật, tham gia sâu hơn vào thị trường thế giới…
Năm 2026, sản lượng cam, bưởi, táo, ổi của Bắc Ninh ước đạt 118.525 tấn, tăng 18,7% so với năm trước. Để nâng cao giá trị sản phẩm, địa phương đặt mục tiêu tăng cường liên kết chuỗi, chuẩn hóa vùng trồng và mở rộng thị trường tiêu thụ...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Với mục tiêu hoàn thành trong tháng 11 hoặc chậm nhất vào cuối tháng 12/2026, các nhà thầu thi công tuyến đường gần 1.500 tỷ đồng tại Thanh Hóa đang tăng cường nhân lực, máy móc, tổ chức nhiều mũi thi công đồng thời để đẩy nhanh tiến độ dự án.