Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung nhấn mạnh nội dung này khi giải trình thêm vấn đề các đại biểu Quốc hội quan tâm về trợ cấp hưu trí xã hội, tại phiên thảo luận sáng 23/11.
Quan tâm tới quy định về trợ cấp hưu trí xã hội tại dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Danh Tú, đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Kiên Giang, cho biết khoản 2 Điều 17 Luật Người cao tuổi quy định người từ đủ 80 tuổi trở lên mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng thì được hưởng chính sách bảo trợ xã hội.
Dự thảo Luật đã bổ sung trợ cấp hưu trí xã hội, công dân Việt Nam từ đủ 75 tuổi trở lên mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng và trợ cấp xã hội hàng tháng khác, sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội do ngân sách nhà nước bảo đảm.
Đại biểu nhận thấy đây là một quy định hết sức nhân văn, đáp ứng nguyện vọng, mong muốn của cử tri. Qua tiếp xúc cử tri trước kỳ họp, nhất là người cao tuổi rất phấn khởi với quy định trên.
Đồng tình với quy định này, song đại biểu Ma Thị Thúy, đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang, băn khoăn về việc đưa đối tượng người cao tuổi từ đủ 75 tuổi trở lên hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.
Lý giải quan điểm trên, đại biểu cho biết trợ cấp xã hội đối với người cao tuổi không có lương hưu, không có trợ cấp bảo hiểm xã hội, nếu không thực hiện và đưa sang Luật Bảo hiểm xã hội thì Luật Người cao tuổi, và Nghị định 20 quy định về chính sách xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội vẫn đang được thực hiện, và người cao tuổi vẫn hưởng trợ cấp hàng tháng theo quy định.
Theo đại biểu Thúy, chính sách về bảo hiểm xã hội thực hiện theo nguyên tắc đóng - hưởng, trong khi trợ cấp cho nhóm đối tượng này hoàn toàn do ngân sách nhà nước chi trả.
“Liệu quy định vào dự thảo Luật có phù hợp hay không? Mặc khác, về tên gọi “trợ cấp hưu trí xã hội”, cho nhóm đối tượng không phải hưu trí từ công chức, viên chức, người lao động, và chưa từng tham gia đóng bảo hiểm xã hội có phù hợp khi được quy định trong trường hợp này hay không”, đại biểu Thúy lo ngại.
Cũng góp ý vào quy định giảm độ tuổi từ 80 xuống 75 thì được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, Đại biểu Trần Khánh Thu, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Bình nói đây là vấn đề rất cần thiết.
Tuy nhiên, đại biểu cũng băn khoăn về kỹ thuật thì nên đưa vào Luật này hay chỉnh sửa trong Luật Người cao tuổi để cần tiếp tục cân nhắc, đảm bảo tính phù hợp và đồng bộ.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật có quy định mức trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng do Chính phủ quy định phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và khả năng của ngân sách nhà nước từng thời kỳ.
Đại biểu đề nghị cần nên quy định cụ thể mức trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng so với mức lương tối thiểu. Hiện dự thảo Luật quy định tùy thuộc điều kiện kinh tế - xã hội, và khả năng cân đối ngân sách, kết hợp nguồn lực huy động nguồn lực xã hội tại địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định hỗ trợ thêm cho người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.
Với quy định này, đại biểu Thu cho rằng chưa đảm bảo được nguyên tắc thống nhất, bình đẳng chung trong cả nước. Do đó, đề nghị cân nhắc xem xét quy định này và nên có chính sách chung.
Phát biểu tranh luận về nội dung trợ cấp hưu trí xã hội, đại biểu Huỳnh Thị Phúc, đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cho rằng việc quy định mức tiền cụ thể trong quy định liên quan đến trợ cấp hưu trí xã hội này là không nên, vì sẽ có trượt giá và các vấn đề liên quan đến lương hưu ở các thời điểm khác nhau.
“Chúng ta mong muốn luật được xây dựng sẽ có thể áp dụng được trong thời gian dài, nên cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra cần cân nhắc xem xét, sửa đổi theo hướng quy định ở mức lương cơ sở và tính trượt giá, các nội dung cụ thể thì giao Chính phủ quy định để đảm bảo phù hợp, có mức tương đồng theo hướng tốt hơn so với Luật Người cao tuổi”, đại biểu Phúc nêu ý kiến.
Đại biểu cho biết, theo quy định của Luật Người cao tuổi hiện nay, mức hưởng của các đối tượng này tương đối thấp, với nguyên tắc của bảo hiểm xã hội, chúng ta hướng đến việc đóng – hưởng, bao phủ, bảo đảm chính sách an sinh xã hội cho tất cả các đối tượng theo hướng bảo đảm quyền, lợi ích, nghĩa vụ của các bên. Vì thế, đại biểu cho rằng nên nâng cao mức thụ hưởng của người cao tuổi.
Bày tỏ quan điểm về vấn đề này, đại biểu Trương Xuân Cừ, đoàn Đại biểu Quốc hội TP. Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam, nhấn mạnh, các quy định về trợ cấp hưu trí xã hội là rất cần thiết.
Ông Cừ cho biết theo thống kê của Bộ Công an, hiện nay có 16,1 triệu người cao tuổi, nhưng chỉ có 5,1 triệu người cao tuổi có lương hưu và trợ cấp, còn lại 11 triệu người không có khoản thu nhập về lương hưu, trợ cấp sau 60 tuổi.
Về ý kiến băn khoăn khi quy định về trợ cấp, hưu trí xã hội thì có mâu thuẫn với Luật Người cao tuổi hay không, ông Cừ cho rằng, Luật Người cao tuổi được ban hành năm 2009, lúc đó chúng ta có 7 triệu người cao tuổi, GDP bình quân đầu người là 1.200 USD/người. Đến nay, số người cao tuổi đã tăng hơn gấp đôi, GDP cũng đã tăng cao, vì vậy không nên chỉ dừng lại ở mức độ 80 tuổi mới được trợ cấp xã hội.
“Nhiều cử tri cao tuổi đề nghị Quốc hội giảm tuổi hưởng trợ cấp xã hội xuống 75 tuổi. Việc đưa vào dự thảo luật lần này là một đột phá trong chính sách an sinh xã hội, thể hiện tính ưu việt của Đảng, nêu cao mục tiêu vì con người, để người cao tuổi sống khỏe, sống vui, sống hạnh phúc”, ông Cừ nhấn mạnh.
Làm rõ hơn về trợ cấp hưu trí xã hội, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhấn mạnh đây là vấn đề mà Chính phủ, Ban soạn thảo đã bám sát tinh thần Nghị quyết 28-NQ/TW.
Đây là tầng đầu tiên trong hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng. Trợ cấp hưu trí xã hội do ngân sách nhà nước đảm bảo cho người lao động ở các độ tuổi là cao tuổi, và không có lương hưu, không có bảo hiểm xã hội hàng tháng. Đồng thời, có chính sách huy động nguồn lực xã hội bổ sung cho các đối tượng này có mức lương hưu cao hơn.
“Việc điều chỉnh giảm dần độ tuổi trợ cấp hưu trí xã hội trước mắt, Chính phủ đề xuất với Quốc hội giảm từ 80 xuống 75, và với phương án sẽ tiếp tục giảm dần, tiến tới tiệm cận tuổi nghỉ hưu. Việc điều chỉnh này sẽ tùy theo tình hình phát triển kinh tế - xã hội, khả năng ngân sách của Nhà nước”, Bộ trưởng Dung nói và cho hay, điều chỉnh thời điểm nào, mức nào thì sẽ do Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Đồng thời, để linh hoạt quy định mức hỗ trợ kinh phí cho trợ cấp hưu trí xã hội, cũng như các chính sách hỗ trợ khác (thai sản, hỗ trợ phụ nữ, trẻ em…), sẽ giao cho Chính phủ quy định.
“Tức là tất cả các mức quy định bằng tiền sẽ giao Chính phủ quy định. Như vậy, sẽ phù hợp, linh hoạt hơn. Còn mức cụ thể, Chính phủ sẽ báo cáo Quốc hội trước khi xem xét, quyết định”, Bộ trưởng Dung nói thêm.




Để chuẩn bị cho Kỳ họp thứ 2, Chủ tịch Quốc hội đề nghị các cơ quan cần chủ động, khẩn trương chuẩn bị từ sớm, kỹ lưỡng, bảo đảm các nội dung trình Quốc hội có chất lượng, đúng tiến độ, đúng quy trình.
Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại nhất trí về sự cần thiết ban hành luật. Đồng thời đề nghị quy định về cơ chế “hậu kiểm”, chia sẻ dữ liệu điện tử và quản lý theo mức độ rủi ro, nhằm bảo đảm việc cắt giảm thủ tục hành chính không làm giảm hiệu lực quản lý của nhà nước.
Bộ Công an cho biết 8/12 cơ sở dữ liệu quốc gia và 67 cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã được kết nối, đồng bộ với Trung tâm Cơ sở dữ liệu Quốc gia, từng bước tạo giá trị thực tế cho người dân và doanh nghiệp.
Cơ quan điều tra đang tiếp tục mở rộng, làm rõ các vụ án liên quan Huấn Hoa Hồng, Phú Lê và Hải SAPA. Bộ Công an đồng thời khuyến cáo người dân cần thận trọng trước thông tin và những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu xuất khẩu sầu riêng năm 2026 ít nhất bằng mức 3,85 tỷ USD của năm 2025 và có thể đạt khoảng 4 tỷ USD, đồng thời tập trung đa dạng hóa thị trường, chuẩn hóa chất lượng, truy xuất nguồn gốc và nâng năng lực chế biến, logistics.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.