
Giá vàng trong nước và thế giới
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Thứ Sáu, 06/02/2026
Chu Khôi
30/09/2021, 16:50
Theo số liệu công bố hiện trạng rừng của Tổng cục Lâm nghiệp, vẫn còn một diện tích rất lớn rừng và đất rừng “chưa có chủ”, hiện đang được “tạm” quản lý, bảo vệ bởi các UBND cấp xã…
Với mong muốn thảo luận đề xuất các giải pháp phù hợp cho loại hình rừng do UBND cấp xã đang tạm quản lý, ngày 30/9/2021, Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature ) phối hợp cùng với Hội Chủ rừng Việt Nam tổ chức Hội thảo trực tuyến: “Vì sao gần 3 triệu ha rừng vẫn chưa có chủ?”.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, tính đến hết năm 2020, diện tích đất có rừng trên cả nước đạt 14.677.215 ha, trong đó: rừng tự nhiên 10.279.185 ha; rừng trồng 4.398.030 ha.
Hiện trạng rừng theo chủ quản lý vào năm 2020: diện tích do các Ban quản lý rừng quản lý 5.207.573 ha, chiếm 35%; các hộ gia đình quản lý 3.193.169 ha, chiếm 21%; các UBND cấp xã tạm quản lý 2.940. 484 ha, chiếm 20%; các tổ chức kinh tế quản lý sử dụng 1.743.854 ha, chiếm 12%; còn lại là các tổ chức khác 325.545 ha, chiếm 2%.
Ông Hứa Đức Nhị, Chủ tịch Hội Chủ rừng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho biết rừng và đất rừng do UBND xã quản lý là hệ quả của quá trình thực hiện chủ trương chuyển đất và rừng từ các lâm trường về địa phương. UBND cấp xã tiếp nhận, sau đó thực hiện giao đất và rừng cho các cộng đồng dân cư, các hộ gia đình cá nhân và các chủ rừng khác để trồng, chăm sóc, bảo vệ.
Thế nhưng đã 20 năm nay, công tác giao đất, giao rừng cho hộ cá nhân và tư nhân vẫn “dậm chân tại chỗ”, mặc dù đã có chủ trương xử lý từ Chính phủ.
Ông Nhị dẫn số liệu công bố năm 2009, toàn quốc có 2,3 triệu ha rừng do UBND xã quản lý. Sau gần một thập kỷ, con số này không giảm mà còn tăng thêm, lên tới 2.940.484 ha rừng vào năm 2020, tương đương 13% tổng diện tích đất có rừng tại Việt Nam.
Đề cập việc tồn tại một diện tích lớn diện tích rừng và đất rừng do UBND xã quản lý trong thời gian dài, ông Nhị cho rằng: Do thể chế giao đất của ngành tài nguyên môi trường có những khác biệt với việc giao rừng của ngành lâm nghiệp, và trách nhiệm chưa rõ ràng giữa 2 ngành này.
“Rừng phải có chủ đã được ghi trong Luật Lâm nghiệp. Nếu chỉ hô hào và giao nhiệm vụ, mà vấn đề lại ở mãi cơ sở, đa số là vùng sâu vùng xa, thì 5-10 năm nữa tình hình giao đất, giao rừng chắc cũng ít có chuyển biến đáng kể”, ông Nhị nhận định.
Theo ông Nguyễn Bá Ngãi, Nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, trong diện tích rừng do UBND cấp xã tạm quản lý, tỷ lệ diện tích không có rừng cao, chất lượng rừng thấp, hạ tầng rất kém hoặc không có hồ sơ rừng, không rõ ranh giới trên thực địa…
Phân tích nguyên nhân dẫn khiến rừng do UBND cấp xã quản lý khó bảo vệ và phát triển, ông Ngãi cho biết do UBND xã không đủ nguồn lực về con người, tài chính, kỹ thuật để quản lý rừng và đất rừng.
Trong khi đó, thiếu sự phối hợp giữa xã với cơ quan chấp pháp, nên tình trạng chặt phá rừng và vi phạm Lâm luật rất đáng báo động. Mặt khác, nhiều diện tích đất rừng ở xa, địa hình phức tạp nên người dân không muốn nhận giao khoán trồng, bảo vệ.
Đề xuất về thể chế chính sách, Ông Nguyễn Bá Ngãi kiến nghị cần bổ sung một mục riêng hoặc một số điều vào Mục 4 trong Luật Đất đai về đất chưa giao. Cùng với đó, Chính phủ cần ban hành Quy chế quản lý rừng chưa giao.
Cần có chính sách riêng cho UBND xã được tiếp nhận đầu tư và hỗ trợ để quản lý rừng chưa giao. Đồng thời, cần thống kê, kiểm kê, rà soát lại chỉ tiêu thống kê và phương pháp để hàng năm thống kê loại rừng và đất rừng bảo đảm đồng bộ giữa 3 cơ quan: UBND các cấp, Ngành Lâm nghiệp và Ngành quản lý Đất đai để lập hồ sơ rừng theo dõi diến biến rừng hàng năm.
Ông Nguyễn Văn Hoan, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai, cho hay trên địa bàn tỉnh vẫn nhức nhối tình trạng cháy rừng, phá rừng, khai thác rừng trái phép.
Nguyên nhân do tỷ lệ rất lớn diện tích rừng vẫn do UBND cấp xã tạm quản lý, địa hình nhiều đồi núi dốc nên khó khăn trong công tác tuần tra, kiểm tra rừng. Trong khi đó, các đối tượng vi phạm Luật Lâm nghiệp ngày càng tinh vi, manh động nhưng quyền hạn của lực lượng Kiểm lâm còn nhiều hạn chế.
Nêu lên những khó khăn, vướng mắc trong công tác giao rừng, cho thuê rừng, vị này chia sẻ: Còn nhiều bất cập về vị trí pháp lý, quyền lợi, quyền sở hữu, trách nhiệm của cộng đồng.
Ông Hoan phản ánh: Hiện vẫn chưa có sự đồng bộ về giao đất, giao rừng giữa Luật đất đai và Luật Lâm nghiệp. Theo quy định tại Điều 17, Luật Lâm nghiệp: Nhà nước cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân thuê rừng sản xuất là rừng tự nhiên, rừng sản xuất là rừng trồng.
Tuy nhiên theo quy định tại khoản 33, điều 2, Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 6/1/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai quy định: Nhà nước giao đất rừng tự nhiên là rừng sản xuất mà không có cho thuê đất rừng.
Đồng bào dân tộc thiểu số sống gần rừng đa số là hộ nghèo, nguồn vốn đầu tư hạn chế. Trong khi rừng giao cho cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư cũng là rừng nghèo, rừng Khộp các sản phẩm tận thu dưới tán rừng hầu như chưa có gì.
Vì vậy, ông Hoan đề nghị Trung ương có chính sách hỗ trợ đặc thù đối với các tỉnh Tây Nguyên. Các bộ ngành Trung ương sớm điều chỉnh, bổ sung thống nhất, đồng bộ giao đất, giao rừng, cho thuê đất, cho thuê rừng đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư giữa Luật lâm nghiệp và Luật đất đai.
TS Tô Xuân Phúc, Giảng viên Đại học quốc gia Úc, khuyến nghị cần tạo quỹ đất rừng “sạch” có tiềm năng sử dụng thực sự để giao cho cộng đồng hoặc hộ gia đình. Khi giao cho người dân trách nhiệm trồng, canh tác, bảo vệ rừng thì phải đi kèm với cho họ quyền lợi.
Các chủ rừng phải có quyền và tư cách pháp nhân để kêu gọi doanh nghiệp đầu tư liên kết trồng rừng tạo chuỗi cung bình đẳng và cùng có lợi, hộ sử dụng quyền đất đai góp vào liên kết. Đối với rừng nghèo kiệt, nên giao cho cộng đồng hoặc nhóm hộ khoanh nuôi bảo vệ. Với đất đã có rừng, nên giao cho các hộ quản lý bảo vệ và khai thác khi cây tới chu kỳ và tái trồng rừng.
17:47, 16/09/2021
Chiều 5/2/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP về việc tạm ngưng hiệu lực và điều chỉnh thời hạn áp dụng Nghị định số 46/2026/NĐ-CP đến hết ngày 15/4/2026 để hoàn thiện văn bản hướng dẫn và tạo thêm thời gian cho doanh nghiệp thích ứng. Tuy nhiên, câu chuyện này vẫn đặt ra một bài học đáng suy ngẫm về tính khả thi, lộ trình và thời điểm áp dụng chính sách trong thực tiễn...
Trước những biến động của thị trường thế giới, trong kỳ điều hành ngày 5/2, giá xăng dầu trong nước tiếp tục được điều chỉnh tăng. Theo đó, giá các mặt hàng xăng có mức tăng từ 35 – 100 đồng/lít; các loại dầu có mức tăng từ 214 – 517 đồng/kg/lít…
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP về việc tạm ngưng hiệu lực và điều chỉnh thời hạn áp dụng Nghị định số 46/2026/NĐ-CP ngày 26/01/2026 quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP ngày 27/01/2026 quy định về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm.
Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Nghệ An vừa khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Thị Lộc về hành vi sản xuất, buôn bán giấm giả bằng axit axetic công nghiệp, với quy mô lớn, tiêu thụ trong và ngoài tỉnh...
Xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam tháng đầu năm ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, với kim ngạch ước đạt gần 6,51 tỷ USD, tăng 29,5% so với cùng kỳ năm trước. Đây là khởi đầu thuận lợi, tạo nền tảng tích cực cho mục tiêu cả năm 2026...
Chứng khoán
Doanh nghiệp niêm yết
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: