Việt Nam đã đặt mục tiêu nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị vi mạch bán dẫn; trở thành một trong ba quốc gia dẫn đầu ASEAN về năng lực trí tuệ nhân tạo (AI); đồng thời phát triển kinh tế sinh học để đóng góp ít nhất 7% GDP vào năm 2045....
Những mục tiêu này không chỉ mang tính táo bạo mà còn phản ánh tầm nhìn chiến lược dài hạn của Chính phủ, nhằm đưa đây là một việc cần làm để thực hiện hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, với nền kinh tế dựa trên công nghệ và tri thức.
Việt Nam nằm tại vi trí giao thoa của vùng đất đổi mới sáng tạo có năng lực cạnh tranh vượt trội ở Đông Á - khu vực tập trung cả năm cụm khoa học công nghệ lớn nhất thế giới ở các quốc gia: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore và Đài Loan (Trung Quốc). Sự gần kề về địa lý này sẽ giúp cho Việt Nam có thể khai thác các mạng lưới tri thức và các chuỗi giá trị trong khu vực.
Tuy nhiên, các ngành công nghiệp có hàm lượng nghiên cứu, giá trị cao hơn và các lĩnh vực dịch vụ dựa vào tri thức trong nền kinh tế Việt Nam vẫn được đánh giá là còn non trẻ.
Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB), kim ngạch xuất khẩu điện tử tăng vọt của Việt Nam (trên 132 tỷ USD) đã đưa quốc gia trở thành một trong những trung tâm chế tạo chế biến điện tử hàng đầu thế giới, nhờ nền tảng chế tạo chế biến vững mạnh có thể thu hút thêm đầu tư về công nghệ cao.
Song, Việt Nam vẫn chủ yếu tham gia các hoạt động thâm dụng lao động ở hạ nguồn, và chỉ cung cấp một vài dịch vụ hỗ trợ thiết kế vi mạch đơn giản. Các công đoạn tiên tiến như thiết kế vi mạch tiền kỳ (front-end), phát triển tài sản trí tuệ, chế tác tấm bán dẫn tiên tiến, chủ yếu được thực hiện ở nước ngoài.
Đến năm 2024, khoảng 85% lượng hàng điện tử xuất khẩu của Việt Nam được sản xuất tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), chủ yếu qua lắp ráp các linh kiện được thiết kế ở nơi khác.
Giải thích về vấn đề này, bà Trần Thị Ánh Nguyệt, Chuyên gia Giáo dục của Ngân hàng Thế giới (WB), cho rằng nền tảng về nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam hiện còn tương đối thấp, dẫn tới sản phẩm đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực công nghệ cao của Việt Nam còn hạn chế.
Năm 2023, cả nước có khoảng 80.900 nhân lực R&D, chỉ chiếm khoảng 0,15% tổng số lực lượng lao động. Điều này đồng nghĩa với việc chỉ có chưa đến 800 cán bộ nghiên cứu trên một triệu dân vào năm 2023, thấp hơn đáng kể so với các quốc gia hàng đầu trong khu vực và thấp hơn mục tiêu quốc gia đề ra là đạt ít nhất 12 nhân lực R&D toàn thời gian trên mỗi 10.000 dân vào năm 2030.
Đặc biệt, hồ sơ xin cấp bằng sáng chế trong nước về lĩnh vực vi điện tử tại Việt Nam mới chỉ bắt đầu tăng lên trong những năm gần đây, với tốc độ tăng khoảng 28% mỗi năm từ năm 2018 đến năm 2023, nhưng với xuất phát điểm rất thấp. Trong đó, khoảng 70% số hồ sơ mới là của các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.
Trong khi đó, các quốc gia có thu nhập trung bình, như Malaysia và Thái Lan, mỗi nước đều nộp hàng chục hồ sơ xin cấp bằng sáng chế quốc tế về vi mạch bán dẫn trong thập kỷ qua, trong khi riêng Trung Quốc chiếm đến 55% số hồ sơ xin cấp bằng sáng chế trên toàn cầu về vi mạch bán dẫn trong giai đoạn 2021-2022.
“Khoảng cách trên càng thể hiện rõ thách thức của Việt Nam trong công cuộc chuyển hóa kiến thức thành tài sản trí tuệ”, bà Nguyệt nhấn mạnh
Theo bà Nguyệt, các rào cản chính đang cản trở “vòng quay” đổi mới sáng tạo và nhân tài của Việt Nam tăng tốc bao gồm: vòng lặp giáo dục sau đại học và phát triển đội ngũ giảng viên còn yếu; tình trạng đầu tư cho giáo dục đại học và R&D không đầy đủ và kéo dài; liên kết giữa cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp còn yếu; khoảng cách cơ sở hạ tầng nghiên cứu và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.
Vì vậy, nhằm kích hoạt nguồn nhân tài công nghệ của Việt Nam, bà Nguyệt cho rằng cần chú trọng 4 trụ cột giải pháp chính:
Thứ nhất, mở rộng và tăng cường chiều sâu của đội ngũ nhân tài công nghệ cao.
Trong đó, Việt Nam cần nhanh chóng mở rộng nguồn cung nhân tài (tăng cả quy mô lực lượng lao động kỹ năng cao hiện tại và nguồn sinh viên mới tốt nghiệp) và tăng cường chiều sâu năng lực của họ để nâng tầm trình độ kỹ năng và chuyên môn thông qua việc cung cấp các học bổng sau đại học quốc gia; tổ chức chương trình thu hút và giữ chân nhân tài công nghệ toàn cầu, Chương trình đào tạo hiện đại gắn với nhu cầu doanh nghiệp
Thứ hai, xây dựng cơ sở hạ tầng R&D và thí điểm dùng chung.
Việt Nam cần đầu tư cơ sở hạ tầng dùng chung, mở quyền truy cập nhằm tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục đại học và các doanh nghiệp khởi nghiệp được sử dụng cơ sở vật chất phòng thí nghiệm quốc gia, thay vì phải tự xây dựng riêng.
Thứ ba, thúc đẩy liên kết giữa Cơ sở giáo dục đại học - Doanh nghiệp - Chính phủ và tác động lan tỏa của FDI.
Trụ cột này nhằm triển khai các chương trình trọng điểm nhằm phá vỡ tư duy cục bộ và thúc đẩy mô hình “vòng xoáy ba bên” hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Hiện nay, yêu cầu cấp thiết của Việt Nam là kết nối và gắn kết lợi ích của các bên để tri thức được lưu chuyển tự do và đổi mới sáng tạo được lan tỏa trong toàn bộ nền kinh tế.
“Chính vì vậy, tác động cộng hưởng đó sẽ tạo ra nguồn cung tài năng sẵn sàng cho công việc, đẩy nhanh đổi mới sáng tạo, cải thiện thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tăng cường tác động lan tỏa từ đầu tư”, bà Nguyệt cho hay.
Việc thiết lập quan hệ thành phố hữu nghị giữa thành phố Huế và thành phố Shizuoka, Nhật Bản được kỳ vọng mở rộng cơ hội hợp tác trong kinh tế, đầu tư, du lịch, phát triển nguồn nhân lực và công nghệ xanh, qua đó tạo thêm động lực cho Huế trong quá trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững.
Năm 2026, TP. Hồ Chí Minh quyết tâm đạt tăng trưởng GRDP cả năm trên 10%, phấn đấu quý III đạt từ 11,07% và quý IV đạt từ 12,3%. Đồng thời, Thành phố phấn đấu huy động trên 1,2 triệu tỷ đồng vốn đầu tư phát triển và thu ngân sách đạt mốc 1 triệu tỷ đồng…
Đà Nẵng đang chuẩn bị kế hoạch tăng cường hợp tác chiến lược với các đối tác châu Âu giai đoạn 2026-2030 tập trung vào 5 lĩnh vực chiến lược quan trọng…
Với mạng lưới 88 địa phương kết nghĩa trên thế giới sau hợp nhất, TP. Hồ Chí Minh kỳ vọng Đối thoại Hữu nghị lần thứ 3 năm 2026 sẽ trở thành không gian thúc đẩy các hợp tác, kết nối mới về đầu tư, đổi mới sáng tạo, logistics, cảng biển và phát triển bền vững...
Đề xuất di dời đoạn đường sắt Ga Hà Nội - Ngọc Hồi để phục vụ mở rộng Quốc lộ 1A đặt ra bài toán không chỉ về mặt bằng, mà còn về năng lực vận tải, khả năng kết nối và vai trò của các đầu mối trong mạng lưới đường sắt tương lai...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.