Theo báo cáo từ Brand Finance, giai đoạn 2020–2025 chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam. Tính đến năm 2025, giá trị này đã chạm mốc gần 520 tỷ USD, đưa Việt Nam vươn lên vị trí thứ 32 trong tổng số 193 quốc gia, đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng 63%.
Tuy nhiên, bức tranh màu hồng này vẫn tồn tại những mảng màu xám đáng lưu ý. Riêng trong năm 2025, giá trị của Top 10 thương hiệu hàng đầu lại sụt giảm khoảng 14%, tương đương 38,4 tỷ USD. Sự sụt giảm này là hồi chuông cảnh báo cho thấy nền tảng nội lực của cộng đồng doanh nghiệp Việt chưa đồng đều và những "cây đại thụ" đủ sức cạnh tranh sòng phẳng trên quy mô toàn cầu vẫn còn quá thưa thớt.
Tại tọa đàm “Giá trị thương hiệu: Từ nội lực doanh nghiệp đến sức mạnh quốc gia”, bà Tạ Hoàng Lan, Phó Trưởng phòng, Phòng Phát triển Năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, nhận định chúng ta đang tăng về số lượng nhưng chưa thực sự mạnh về "chất".
Nguyên nhân cốt yếu bắt nguồn từ việc nhiều doanh nghiệp vẫn mải mê với câu chuyện gia công, làm thuê mà bỏ ngỏ năng lực thiết kế và xây dựng bản sắc riêng. Bên cạnh đó, nhận thức về bảo hộ sở hữu trí tuệ còn hạn chế đã khiến không ít thương hiệu bị "đánh cắp" ngay tại sân nhà.
Đáng ngại hơn, nhiều đơn vị vẫn xem kinh phí cho xây dựng và phát triển thương hiệu là một loại "chi phí" cần cắt giảm thay vì coi đó là một "khoản đầu tư" chiến lược cho tương lai. Phần lớn doanh nghiệp tập trung vào việc bán hàng và nâng cao chất lượng sản phẩm để tiêu thụ, trong khi chưa nhìn nhận đúng vai trò của xây dựng thương hiệu.
Đồng quan điểm, chuyên gia thương hiệu Lại Tiến Mạnh (Mibrand Vietnam) thẳng thắn chỉ ra rằng doanh nghiệp Việt có khát vọng lớn nhưng lại lúng túng trong triển khai, trong việc xác định chiến lược, quy mô đầu tư và cách thức triển khai hiệu quả do năng lực quản trị thương hiệu còn nhiều hạn chế, tư duy về xây dựng thương hiệu chưa đầy đủ.
Chúng ta thường đi sau và bước vào cuộc chơi trong tình trạng thiếu hụt nền tảng: từ nguồn nhân lực chuyên môn, ý tưởng sáng tạo cho đến năng lực quản trị thương hiệu toàn diện. Đặc biệt, với những doanh nghiệp đa ngành, bài toán quản trị hệ thống thương hiệu con vẫn là một thử thách quá tầm. Những doanh nghiệp sở hữu nhiều dòng sản phẩm hoặc hệ thống thương hiệu con, bài toán quản trị càng trở nên phức tạp.
“Hạn chế lớn của doanh nghiệp Việt là thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên môn, thiếu ý tưởng và năng lực sáng tạo, trong khi đây lại là những yếu tố cốt lõi để xây dựng thương hiệu bền vững”, ông Mạnh nhấn mạnh.
Để đưa thương hiệu Việt vươn xa, bà Tạ Hoàng Lan cho biết Bộ Công Thương định hướng chuyển dịch từ việc chỉ xác định xuất xứ sang việc kể một "câu chuyện Việt Nam" đầy cảm hứng trong từng sản phẩm. Mỗi mặt hàng không chỉ là vật chất thuần túy mà phải chứa đựng tinh hoa văn hóa, bản sắc vùng miền kết hợp cùng hàm lượng đổi mới sáng tạo cao.
Trong kỷ nguyên số, chiến lược phát triển sẽ tập trung vào số hóa toàn diện, tăng cường hiện diện trên các nền tảng số và tối ưu hóa bộ nhận diện thương hiệu trên internet. Thúc đẩy thương mại điện tử, đưa hàng hóa Việt thâm nhập sâu vào các sàn thương mại điện tử xuyên biên giới. Chuẩn hóa giá trị xanh, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững khắt khe của thị trường quốc tế.
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Phan Văn Tâm, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Phân bón Bình Điền, cho rằng danh hiệu Thương hiệu quốc gia là bảo chứng cho uy tín và chất lượng, giúp tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội.
Ông Tâm kiến nghị các cơ quan chức năng cần đẩy mạnh truyền thông để người tiêu dùng, đặc biệt là khu vực nông thôn, hiểu đúng và tin tưởng vào giá trị của danh hiệu này.
Đồng tình với quan điểm trên, ông Trần Đình Tài, Phó Tổng Giám đốc, Công ty cổ phần Tập đoàn Hoa Sen, nhấn mạnh tầm quan trọng của một "hệ sinh thái" hỗ trợ từ Nhà nước. Để tối ưu hóa sức mạnh, cần sự liên kết chặt chẽ giữa ba chân kiềng: Doanh nghiệp – Nhà nước – Tổ chức xúc tiến.
“Khi các doanh nghiệp cùng đi chung một con đường, tận dụng được sức mạnh cộng hưởng, thương hiệu Việt sẽ có cơ hội khẳng định vị thế rõ nét hơn trên bản đồ kinh tế toàn cầu”, ông Tài khẳng định.




Chương trình OCOP giai đoạn 2026 - 2030 được thành phố Huế xác định là giải pháp quan trọng nhằm cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát huy lợi thế sản phẩm bản địa, làng nghề truyền thống và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững...
Quyết định rà soát cuối kỳ biện pháp chống bán phá giá vật liệu hàn từ Malaysia, Thái Lan và Trung Quốc nhằm đánh giá nguy cơ tái diễn hành vi bán phá giá và thiệt hại cho sản xuất nội địa nếu chấm dứt biện pháp này…
Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) không chỉ dừng lại ở việc bổ sung ưu đãi, mà đòi hỏi một cuộc cách mạng về tư duy lập pháp: Lấy doanh nghiệp làm trung tâm và chuyển từ tư duy “Nhà nước có gì hỗ trợ nấy” sang “doanh nghiệp cần gì hỗ trợ đó”...
Xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức khi phụ thuộc quá lớn vào một thị trường duy nhất. Tuy nhiên, lộ trình triển khai xăng sinh học E10 trên phạm vi toàn quốc được kỳ vọng sẽ mở ra hướng đi mới, tạo đầu ra ổn định cho ngành sắn, đồng thời thúc đẩy phát triển vùng nguyên liệu ethanol trong nước...
Bộ Công Thương đề nghị các địa phương cung cấp số liệu về nguồn điện, lưới điện và nhu cầu phụ tải mới nhằm phục vụ quá trình rà soát, cập nhật Quy hoạch điện 8 điều chỉnh. Các báo cáo phải được tổng hợp và gửi về Bộ trước 17h ngày 30/6/2026…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Cuối tháng 6 này, sàn giao dịch tín chỉ carbon dự kiến sẽ chính thức được đưa vào vận hành. Hiện các đơn vị liên quan đang khẩn trương hoàn thiện các hạng mục bảo đảm hoạt động đăng ký, lưu ký, giao dịch và thanh toán hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được thực hiện thông suốt, minh bạch và hiệu quả.