07:14 23/09/2022

Tích hợp kinh tế, xã hội, môi trường: Đề bài nhiều thách thức với doanh nghiệp

Vũ Khuê -

Ngày càng có nhiều hơn các doanh nghiệp tiếp cận các chuẩn mực bền vững trong kinh doanh nhưng con số này vẫn còn khiêm tốn, đòi hỏi cần sự đầu tư và sự chuyển đổi tư duy toàn diện từ phía lãnh đạo doanh nghiệp…

Ngày càng có nhiều hơn các doanh nghiệp tiếp cận các chuẩn mực bền vững.
Ngày càng có nhiều hơn các doanh nghiệp tiếp cận các chuẩn mực bền vững.

Quản trị doanh nghiệp bền vững và thực hành đánh giá doanh nghiệp trên khung ESG (Kinh tế - Xã hội – Môi trường) đang nổi lên là một xu hướng dẫn dắt cho đầu tư trên phạm vi toàn cầu.

Trong bối cảnh sau đại dịch, ngày càng có nhiều hơn các doanh nghiệp tiếp cận các chuẩn mực ESG, với mục tiêu phát triển kinh tế phải đi cùng với bảo vệ môi trường, phát triển con người và xã hội.

TỶ LỆ BAN HÀNH CHÍNH SÁCH ESG THẤP

Tuy nhiên, tại hội thảo chuyên đề “Chuyển đổi tư duy và hệ thống để tối ưu hóa quản trị doanh nghiệp bền vững” ngày 22/9, đại diện Hội đồng Doanh nghiệp vì sự Phát triển bền vững Thế giới (WBCSD), ông Joe Phelan, Giám đốc Điều hành khu vực Châu Á Thái Bình Dương chia sẻ, kết quả nghiên cứu từ WBCSD cho thấy các doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc xác định những rủi ro về ESG trong công tác quản trị rủi ro hàng năm, cho dù ESG vẫn được họ đưa vào báo cáo bền vững thường niên của mình.

Báo cáo kết quả nghiên cứu do VBCSD chủ trì thực hiện nhằm đánh giá thực trạng một số khu công nghiệp tại Việt Nam theo khung Kinh tế - Môi trường – Xã hội và Quản trị (EESG) cũng cho thấy điều này.

Các chuyên gia, doanh nghiệp thảo luận tại diễn đàn.
Các chuyên gia, doanh nghiệp thảo luận tại diễn đàn.

Các khu công nghiệp đóng góp lớn vào GDP, hơn 50% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, song các thách thức về quản lý môi trường, các vấn đề xã hội và điều kiện người lao động, đáp ứng được các yêu cầu của bạn hàng quốc tế được đặt ra.

Mặc dù vậy, tỷ lệ ban hành chính sách phát triển kinh tế, xã hội, môi trường và quản trị bền vững thấp. Chỉ 39% có chính sách quản lý rủi ro môi trường, 10% có chính sách thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, 13% có chính sách về chuyển đổi số; 16% ban hành chính sách áp dụng thực tiễn…

Các khu công nghiệp quan tâm đến chính sách quản lý rủi ro (hay tuân thủ luật pháp) nhiều hơn các chính sách mang lại sự phát triển bền vững cho khu công nghiệp và các doanh nghiệp tham gia.

Cụ thể, 21% khu công nghiệp quan tâm tới doanh số, 20% quan tâm tới thuế, nhưng chỉ có 13% quan tâm tới vấn đề phát thải và lao động, chỉ 8% quan tâm tới tài nguyên. Các khu công nghiệp thiếu động lực, định hướng trong đồng hành cùng doanh nghiệp hay đưa ra nội dung cũng như phạm vi hỗ trợ doanh nghiệp.

Trong số khu công nghiệp được khảo sát, chỉ 22% khu công nghiệp có chứng chỉ hệ thống quản lý, 76% khu công nghiệp không có thông tin kiểm toán cấp doanh nghiệp. Các giá trị hoạt động của khu công nghiệp chưa được đánh giá đầy đủ và chia sẻ rộng rãi.

54% khu công nghiệp ban hành chính sách về quyền lợi người lao động. Đáng chú ý, chỉ có 24% khu công nghiệp ban hành chính sách tài chính về nhà ở, phụ cấp nhà ở cho người lao động.

24% khu công nghiệp có bộ phận chuyên trách an toàn. 55% khu công nghiệp ban hành chính sách bảo vệ môi trường. 12% ban hành chính sách sử dụng năng lượng tái tạo, 13% có chính sách kinh tế tuần hoàn, 26% tiết kiệm nước… 31% khu công nghiệp có bộ phận chuyên trách về môi trường.

CẦN TẠO RA CÁC GIÁ TRỊ CHUNG

Đánh giá lợi ích khi thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Chủ tịch chuyên trách VCCI, Chủ tịch VBCSD nhận định, nhìn sâu vào mới thấy những yếu tố tưởng phi tài chính như ESG lại mang ý nghĩa tài chính rất lớn.

Vì một công ty đầu tư theo ESG hay nói cách khác là đầu tư cho hoạt động quản trị doanh nghiệp khoa học, chuyên nghiệp là một công ty cam kết với sự phát triển bền vững và chắc chắn sẽ gặt hái được những lợi ích về mọi mặt trong dài hạn.

Song để thực hành ESG cũng như quản trị doanh nghiệp hiệu quả, cần sự đầu tư và đặc biệt là sự chuyển đổi tư duy toàn diện từ phía lãnh đạo doanh nghiệp.

Để giải quyết những khó khăn trên, ông Joe Phelan giới thiệu mô hình ba tuyến mới. Theo đó ESG được tích hợp thông qua 3 trụ cột chính là quản trị, quản lý và cuối cùng là kiểm toán nội bộ.

Bà Hà Thị Thu Thanh, Chủ tịch Hội đồng thành viên Deloitte Việt Nam, Phó Chủ tịch VBCSD cho rằng những tác nhân chính thúc đẩy tiến trình quản trị doanh nghiệp bền vững là người tiêu dùng, các cơ quan quản lý và các nhà đầu tư.

Việc tích hợp ESG là một đề bài nhiều thách thức, tuy nhiên khi Chính phủ đã có cam kết về phát thải ròng, ESG không còn là trách nhiệm mà là một yếu tố để duy trì hoạt động kinh doanh liên tục và là cơ hội phát triển bền vững của doanh nghiệp trong bối cảnh mới. Đây không chỉ là câu chuyện của riêng các công ty đại chúng, công ty niêm yết, mà là của chung tất cả các doanh nghiệp.

Từ thực tế kinh nghiệm ứng dụng ESG, bà Đỗ Hoàng Anh, Giám đốc Pháp lý và Đối ngoại, British American Tobacco (BAT) khu vực Đông Á đã đưa ra thông điệp về “Kiến tạo giá trị chung của doanh nghiệp từ thực hành ESG”.

Theo bà Hoàng Anh, ESG hiện được lồng ghép trong mọi hoạt động kinh doanh của BAT nhằm tạo ra các giá trị chung cho người tiêu dùng, nhân viên, cộng đồng và các bên liên quan.

Thông qua các mục tiêu trung hòa cacbon, sử dụng năng lượng tái tạo, tiết kiệm nước và duy trì không có rác thải chôn lấp, song song với việc tái chế chất thải và sử dụng các nguồn cung bền vững, BAT có thể đóng góp vào nỗ lực chống biến đổi khí hậu, bảo toàn đa dạng sinh học và trồng rừng.

BAT cũng bảo đảm không có lao động trẻ em trong chuỗi cung ứng tại Việt Nam, mang lại sinh kế tốt hơn cho nông dân, đồng thời nỗ lực xây dựng văn hóa đa dạng và hòa nhập, trao quyền cho lãnh đạo nữ, tuân thủ các chuẩn mực đạo đức kinh doanh cũng như các nguyên tắc tiếp thị quốc tế.