Theo số liệu từ Bộ Công Thương, với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập người dân ngày càng cải thiện, dân số trẻ ưa chuộng các xu hướng tiêu dùng mới nên các loại hình hạ tầng thương mại như siêu thị, trung tâm thương mại cũng ngày càng phát triển, nhất là tại các thành phố, thị xã.
Số lượng siêu thị, trung tâm thương mại tăng nhanh giai đoạn 2010-2022, từ 567 siêu thị, 95 trung tâm thương mại (năm 2010) lên 1.241 siêu thị và 258 trung tâm thương mại (năm 2022). Hàng chục nghìn cửa hàng tiện lợi phát triển theo chuỗi, tốc độ phát triển của các loại hình hạ tầng thương mại này cao hơn nhiều so với tốc độ phát triển của chợ. Bình quân giai đoạn 2010-2022, số lượng siêu thị tăng hơn 10%; số lượng trung tâm thương mại tăng khoảng 16,3% trong khi số lượng chợ tăng không đáng kể trong giai đoạn này (cả giai đoạn số lượng chợ chỉ tăng 0,02%).
Bên cạnh đó, các công ty sản xuất hàng tiêu dùng như dệt may, da giày, thực phẩm, điện gia dụng cũng đã đầu tư các chuỗi cửa hàng chuyên doanh rất chuyên nghiệp. Cũng trong giai đoạn này, Việt Nam đã xuất hiện các tập đoàn, doanh nghiệp phân phối (bán buôn, bán lẻ) có quy mô lớn, hệ thống phân phối hiện đại, bước đầu tham gia dẫn dắt thị trường để định hướng sản xuất và tiêu dùng.
Đến cuối năm 2024, các hệ thống phân phối do doanh nghiệp Việt Nam sở hữu đã chứng minh sự lớn mạnh không ngừng thông qua các con số ấn tượng. Điển hình là 4 doanh nghiệp phân phối uy tín về bán lẻ hàng đầu: Saigon Co.op, WinCommerce, Bách Hóa Xanh và Vincom Retail.
Nhận thấy tiềm năng phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam, nhiều tập đoàn bán lẻ quốc tế đã tham gia thị trường, các hệ thống phân phối nước ngoài đã phát triển và mở rộng một cách nhanh chóng thông qua việc đầu tư mới và các hoạt động mua bán, sáp nhập. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lũy kế đến tháng 6/2024, tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực bán buôn, bán lẻ là 7.522 dự án còn hiệu lực (chiếm 18,55% tổng số dự án FDI), với tổng vốn đầu trên 11,4 tỷ USD, đứng vị trí 5/19 ngành, lĩnh vực đầu tư FDI tại Việt Nam.
Các dự án đầu tư vào hệ thống bán lẻ chủ yếu hình thành chuỗi trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, thương mại điện tử. Tính đến tháng 12/2022, Việt Nam có khoảng 1.550 cơ sở bán lẻ các loại hình có vốn FDI, trong đó, có 112 cơ sở bán lẻ FDI có quy mô lớn thuộc loại hình siêu thị, đại siêu thị, trung tâm thương mại.
Bên cạnh các kênh mua sắm trực tiếp, thương mại điện tử Việt Nam với sự phát triển vũ bão, thị phần chủ yếu thuộc về các nhà đầu tư nước ngoài, với những cái tên quen thuộc: Shopee, Tiktokshop, Lazada, Meta... Theo báo cáo của Bộ Công Thương, tính đến nay, có 116 nhà cung cấp nước ngoài về thương mại điện tử đã đăng ký khai thuế và thực hiện nộp thuế qua cổng thông tin điện tử, với tổng thu ngân sách đạt 19.774 tỷ đồng.
Tuy nhiên, TS. Lê Việt Nga, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương), Phó Tổng thư ký Hiệp hội Phát triển hàng tiêu dùng Việt Nam (VACOD), nhận xét, các loại hình hạ tầng thương mại hiện đại vẫn còn chiếm tỷ lệ thấp, phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã lớn. Trong khi hơn 8.000 chợ đầu mối và chợ dân sinh là kênh phân phối hàng hóa chủ lực cả ở khu vực đô thị và khu vực nông thôn, chưa thu hút được doanh nghiệp có tiềm lực tham gia đầu tư, quản lý, khai thác chợ.
Nguyên nhân, do phần lớn người tiêu dùng Việt Nam có thu nhập trung bình, vẫn duy trì tập quán “tiện đâu mua đấy” và đôi khi còn dễ dãi trong mua bán hàng hóa, cho dù không rõ về nguồn gốc xuất xứ và chất lượng an toàn. Hơn nữa, hạ tầng giao thông, logistics còn thiếu và yếu tại nhiều khu vực làm tăng chi phí kinh doanh, giảm chất lượng hàng hóa, nhất là hàng hóa nông sản, thực phẩm, làm giảm sự hấp dẫn người tiêu dùng đến với các hệ thống phân phối hiện đại.
Mặt khác, thiếu cơ chế chính sách ưu đãi về vốn, thuế, phí, tiếp cận đất đai cho ngành phân phối để phát triển hạ tầng văn minh hiện đại và xanh, mở rộng kinh doanh đa dạng mặt hàng.
Hiện còn nhiều bất cập trong quản lý cạnh tranh giữa các loại hình phân phối: giữa thương mại điện tử với mua sắm trực tiếp, giữa phân phối hiện đại với phân phối truyền thống, giữa phân phối của doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI; giữa doanh nghiệp phân phối và nhà cung cấp hàng hóa. Đặc biệt, khó khăn đặc thù của các doanh nghiệp phân phối thuần Việt là phải vay vốn kinh doanh với lãi suất cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp phân phối FDI vay từ chính quốc. Hơn nữa, doanh nghiệp thuần Việt cũng thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao để quản trị hệ thống về tài chính, chất lượng hàng hóa, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tối ưu hóa logistics…
Theo số liệu nghiên cứu công bố năm 2024 của Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, các doanh nghiệp FDI có tiềm lực về vốn, công nghệ và năng lực quản lý nên hoạt động kinh doanh phân phối hàng hóa của họ đạt hiệu quả cao. Cụ thể, thời kỳ 2007 - 2022, doanh thu bán lẻ hàng hoá của khu vực kinh tế FDI tăng 40,65 lần, trong khi khu vực kinh tế trong nước chỉ tăng 6,72 lần. Tốc độ tăng trưởng doanh thu bán lẻ hàng hóa của khu vực kinh tế FDI bình quân 26,29%/năm, khu vực kinh tế trong nước chỉ đạt 13,49%/năm. Thị phần của khu vực kinh tế trong nước trong kênh bán lẻ hiện đại có xu hướng giảm trong thời kỳ này, từ 88,14% năm 2007 giảm xuống 74,19% năm 2015 và xuống còn 70,23% năm 2022.
Để xây dựng những hệ thống phân phối lớn thuần Việt, cạnh tranh với các hệ thống phân phối lớn của thế giới đang hiện diện tại Việt Nam, TS.Nga khuyến nghị các giải pháp cần căn cứ vào chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước.
Theo đó, cần ban hành cơ chế, chính sách mới để đưa Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia vào cuộc sống, tạo nguồn lực ưu tiên về vốn, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo nguồn nhân lực, hiện đại hóa, xanh hóa, số hóa các hệ thống phân phối do người Việt Nam làm chủ. Vì đây là xu thế tất yếu, không thể đảo ngược và sẽ diễn ra rất nhanh cùng với trào lưu của thế giới...
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 08-2025 phát hành ngày 24/02/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam
Cùng một tấn chai nhựa hay vải vụn, nhưng có nhà tái chế bán được sản phẩm vào chuỗi cung ứng của các nhãn hàng dệt may quốc tế, trong khi doanh nghiệp khác chỉ có thể bán với giá thấp, dù đôi khi sử dụng hệ thống máy móc và nguồn thu mua tương tự…
Phát triển sản xuất sợi, vải, nhuộm, hoàn tất đạt chuẩn môi trường và phụ liệu trong nước là yêu cầu cấp thiết để doanh nghiệp dệt may tận dụng ưu đãi của các hiệp định thương mại tự do (FTA) và giữ ổn định đơn hàng…
Từ tàu hàng trọng tải lớn đến những tàu chuyên dụng phục vụ năng lượng ngoài khơi, ngành công nghiệp hàng hải Việt Nam đang mở rộng cả về quy mô lẫn trình độ kỹ thuật, tham gia sâu hơn vào thị trường thế giới…
Năm 2026, sản lượng cam, bưởi, táo, ổi của Bắc Ninh ước đạt 118.525 tấn, tăng 18,7% so với năm trước. Để nâng cao giá trị sản phẩm, địa phương đặt mục tiêu tăng cường liên kết chuỗi, chuẩn hóa vùng trồng và mở rộng thị trường tiêu thụ...
Niên vụ 2025-2026, xuất khẩu cà phê Việt Nam bứt phá mạnh về sản lượng khi đạt 1,8 triệu tấn, thu về 8,5 tỷ USD. Dù giá bán hạ nhiệt khiến kim ngạch chỉ tăng nhẹ 1%, nhưng phân khúc cà phê chế biến vẫn ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, đóng góp 1,5 tỷ USD vào tổng kim ngạch...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Với mục tiêu hoàn thành trong tháng 11 hoặc chậm nhất vào cuối tháng 12/2026, các nhà thầu thi công tuyến đường gần 1.500 tỷ đồng tại Thanh Hóa đang tăng cường nhân lực, máy móc, tổ chức nhiều mũi thi công đồng thời để đẩy nhanh tiến độ dự án.