Chiều 2/10/2025, tại Hà Nội, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) phối hợp với Báo Kinh tế & Đô thị tổ chức tọa đàm “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả: Bài toán đầu tư bền vững cho doanh nghiệp”.
Chia sẻ tại tọa đàm, ông Nguyễn Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Công nghiệp hỗ trợ thành phố Hà Nội (HANSIBA) cho biết đối với cộng đồng doanh nghiệp thuộc HANSIBA, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là trách nhiệm xã hội, mà còn là một bài toán đầu tư chiến lược, mang tính sống còn trong hành trình phát triển bền vững.
TỪ CHỦ TRƯƠNG LỚN ĐẾN KẾT QUẢ CỤ THỂ
Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, gắn liền với mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong thời gian qua, nhiều chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã được ban hành, như Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị; Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 8/6/2023 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 280/QĐ-TTg ngày 13/3/2019 phê duyệt Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 – 2030 (VNEEP3).
Đặc biệt, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2025, có hiệu lực từ 1/1/2026, đã bổ sung nhiều quy định quan trọng, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thúc đẩy cộng đồng, doanh nghiệp áp dụng các giải pháp và công nghệ tiết kiệm năng lượng một cách thiết thực, hiệu quả hơn.
Chia sẻ tại tọa đàm, ông Cù Huy Quang, Trưởng phòng Hiệu quả năng lượng và Chuyển đổi xanh, Cục Đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) cho biết thời gian qua, Bộ Công Thương đã hỗ trợ doanh nghiệp trong tư vấn giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; hỗ trợ doanh nghiệp kiểm toán năng lượng để phát hiện những khâu tiêu tốn nhiều năng lượng, từ đó có giải pháp để sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng tại doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp triển khai mô hình quản lý năng lượng, đặc biệt các doanh nghiệp lớn được hỗ trợ triển khai Hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001; hỗ trợ doanh nghiệp chuyển giao công nghệ, tiếp cận công nghệ mới, tiên tiến và hiệu quả năng lượng; hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực (Người quản lý năng lượng, Kiểm toán viên năng lượng) để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng tại doanh nghiệp.
Đặc biệt, Bộ đang phối hợp với các tổ chức tín dụng, các quỹ quốc tế để tạo nguồn vốn xanh, hỗ trợ doanh nghiệp triển khai các dự án tiết kiệm năng lượng, từ đó giảm bớt gánh nặng đầu tư ban đầu. Quỹ Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả khi được thông qua sẽ hỗ trợ được nhiều hơn cho doanh nghiệp trong việc thúc đẩy đầu tư dây chuyền công nghệ, áp dụng giải pháp về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Cung cấp thêm thông tin về các giải pháp giúp doanh nghiệp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ông Phạm Viết Thạch, Phó Trưởng Ban Môi trường và Phát triển bền vững thuộc EVN cho biết hiện nay, EVN phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương và các Sở Công Thương để đồng hành cùng doanh nghiệp trong thực thi chính sách về năng lượng, tập trung vào hiện đại hóa hạ tầng đo đếm, nâng cao năng lực giám sát và cải thiện chất lượng dịch vụ khách hàng.
Kết quả cụ thể, đến cuối năm 2024, EVN đã lắp đặt hơn 31 triệu công tơ, trong đó 95% là công tơ điện tử, gần 30 triệu công tơ được kết nối đo xa, giúp doanh nghiệp và hệ thống điện quản lý phụ tải minh bạch, hiệu quả hơn. Các dịch vụ điện hiện nay được cung cấp 100% trực tuyến mức độ 4 với gần 38 triệu yêu cầu được giải quyết qua kênh số, giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và chi phí.
Ông Thạch cho biết thêm, hiện nay, EVN đã vận hành cổng thông tin sudungdien.evn.com.vn, cho phép khách hàng theo dõi biểu đồ phụ tải, kiểm soát chi phí và quản lý mức tiêu thụ điện của mình. Trong thời gian tới, nền tảng dữ liệu này có thể tích hợp với hệ thống quản lý năng lượng của doanh nghiệp, cung cấp báo cáo phân tích chuyên sâu, dự báo phụ tải và xác định tiềm năng tiết kiệm. Đây sẽ là công cụ hữu hiệu giúp doanh nghiệp không chỉ theo dõi, mà còn chủ động điều chỉnh sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu tiết kiệm năng lượng và phát triển bền vững quốc gia.
DOANH NGHIỆP CHUYỂN ĐỔI NĂNG LƯỢNG VẪN GẶP KHÓ
Đánh giá cao các mô hình tiết kiệm năng lượng đang được EVN áp dụng, ông Trần Anh Tuấn, Phó Trưởng Ban Quản lý Các khu công nghệ cao và khu công nghiệp Thành phố Hà Nội, cho biết phần lớn doanh nghiệp trong các khu công nghiệp hiện đã nhận thức rõ tầm quan trọng của tiết kiệm năng lượng. Điều này không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất, mà còn đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế về tiêu chuẩn xanh và phát triển bền vững.
Một số mô hình điển hình đang mang lại hiệu quả rõ rệt và có tiềm năng nhân rộng tại các khu công nghiệp như một nhà máy sản xuất thực phẩm tại khu công nghiệp Thăng Long đã đầu tư vào việc cải thiện hệ thống khí nén toàn diện (kiểm soát rò rỉ, thay thế máy nén hiệu suất cao, lắp đặt hệ thống quản lý khí nén thông minh), giúp giảm 20% lượng điện tiêu thụ cho khí nén.
Hay mô hình “Năng lượng mặt trời áp mái kết hợp lưu trữ”, hiện nhiều khu công nghiệp như Quang Minh, Thăng Long, Nội Bài đã có hàng loạt nhà máy lắp đặt điện mặt trời áp mái. Một công ty sản xuất bao bì tại khu công nghiệp Sài Đồng đã tự chủ được khoảng 30-40% nhu cầu điện từ hệ thống mặt trời, giúp giảm áp lực chi phí điện và tăng tính bền vững.
“Việc áp dụng sử dụng hiệu quả năng lượng tại các khu công nghiệp ở Việt Nam nói chung và tại Hà Nội nói riêng đang diễn ra ngày càng tích cực, nhưng mức độ phổ biến và hiệu quả còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô doanh nghiệp, loại hình sản xuất, nguồn vốn đầu tư và nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp”, ông Tuấn nhận xét; đồng thời chỉ ra 4 yếu tố khó khăn chính của doanh nghiệp trong thực hiện sử dụng hiệu quả năng lượng.
Thứ nhất: Thay đổi, điều chỉnh ý thức, hành vi sử dụng năng lượng.
Thứ hai: Đầu tư đổi mới dây chuyền, công nghệ hiện đại chiếm chi phí lớn.
Thứ ba: Các doanh nghiệp tại địa phương chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều, tiếp cận công nghệ tiết kiệm năng lượng còn hạn chế.
Thứ tư: Tiêu chuẩn quy định và cơ chế chính sách còn đang trong quá trình hoàn thiện để khuyến khích được doanh nghiệp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào chuyển đổi năng lượng, ông Quang cho rằng cần có cơ chế để giảm rủi ro tài chính. Hiện Bộ Công Thương đang phối hợp với các tổ chức tài chính hoặc địa phương, các quỹ quốc tế để tạo nguồn vốn xanh, hỗ trợ doanh nghiệp triển khai các dự án tiết kiệm năng lượng, từ đó giảm bớt gánh nặng đầu tư ban đầu.
Một số cơ chế quan trọng có thể kể đến: cơ chế bảo lãnh tín dụng cho các dự án tiết kiệm năng lượng, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ lãi suất hoặc ưu đãi vay vốn từ các quỹ phát triển xanh, quỹ bảo vệ môi trường; mô hình ESCO (công ty dịch vụ năng lượng) – trong đó doanh nghiệp không phải bỏ vốn ban đầu, mà trả dần từ phần tiết kiệm được; uu đãi thuế, khấu hao nhanh đối với thiết bị, công nghệ tiết kiệm năng lượng.
Về phối hợp triển khai, Bộ Công Thương đang làm việc chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Thế giới, Bộ Tài chính và các tổ chức tài chính quốc tế để xây dựng gói tín dụng xanh, đồng thời kết nối với chính quyền địa phương nhằm đưa các mô hình hỗ trợ thí điểm xuống cấp tỉnh/thành.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy nhanh việc xây dựng bản đồ ranh giới đất rừng nhằm hỗ trợ nông sản xuất khẩu đáp ứng quy định EUDR. Đồng thời, các ngành hàng như cà phê, cao su cũng cần bản đồ hóa vùng trồng đến từng thửa đất thay vì chỉ dừng ở cơ sở dữ liệu, tạo nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc, đánh giá rủi ro và nâng cao năng lực quản lý vùng nguyên liệu...
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Đóng góp quan trọng nhất mà VIFC-HCMC có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế quốc gia không đơn thuần là thu hút thêm dòng vốn, mà trở thành nền tảng đáng tin cậy để dòng vốn khu vực và toàn cầu lưu chuyển qua đó...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...