Tiêu thụ xăng sinh học chuyển dịch tích cực nhưng vẫn còn nhiều thách thức

Qua gần một tháng vận hành thực tế, bức tranh toàn cảnh về thị trường kinh doanh và tiêu thụ xăng sinh học đã bộc lộ rõ cả những gam màu sáng tích cực lẫn những thách thức mang tính hệ thống cần sớm giải quyết…

Từ ngày 01 đến 28/6/2026, tổng sản lượng tiêu thụ xăng sinh học (bao gồm cả dòng E5 và E10) trên toàn quốc đạt khoảng 980 triệu lít. Ảnh minh họa.
Từ ngày 01 đến 28/6/2026, tổng sản lượng tiêu thụ xăng sinh học (bao gồm cả dòng E5 và E10) trên toàn quốc đạt khoảng 980 triệu lít. Ảnh minh họa.

Theo báo cáo của Tổ công tác triển khai Thông tư số 50/2025/TT-BCT (Bộ Công Thương) về lộ trình pha chế, phối trộn và sử dụng xăng sinh học E10 tại Việt Nam, tổng sản lượng tiêu thụ xăng sinh học (E5 và E10) từ ngày 1 - 28/6/2026 đạt khoảng 980 triệu lít. Trong đó, xăng E10 đạt 924 triệu lít, chiếm 94,29%, xăng E5 đạt 56 triệu lít, chiếm 5,71%.

BẢO ĐẢM NGUỒN CUNG ỔN ĐỊNH

Kết quả bước đầu này xuất phát từ sự chuyển dịch hạ tầng phân phối đồng bộ. Hiện nay, mạng lưới bán lẻ gồm hơn 17.000 cửa hàng xăng dầu trên khắp cả nước có kinh doanh mặt hàng xăng đã hoàn thành 100% việc chuyển đổi sang kinh doanh xăng sinh học. Toàn bộ 26 thương nhân đầu mối lớn đều tham gia cung ứng xăng E10, có 11/26 thương nhân đầu mối tiếp tục duy trì cung ứng song song xăng E5.

Để có được gần 1 tỷ lít xăng sinh học cung ứng ra thị trường, bài toán bảo đảm nguồn cung xăng khoáng nền và chất phối trộn ethanol (E100) đã được các cơ quan quản lý và doanh nghiệp vận hành nhịp nhàng.

Về nguồn xăng khoáng, tổng lượng mua trong nước và nhập khẩu trong tháng 6/2026 đạt 982.616 m3, hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu phối trộn lẫn tiêu thụ. Trong đó, sản xuất nội địa từ hai nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn vận hành ổn định, không có lịch bảo dưỡng lớn, tiếp tục đóng vai trò xương sống khi bảo đảm tới 70% nhu cầu thị trường; phần 30% còn lại được các doanh nghiệp đầu mối chủ động bù đắp bằng các hợp đồng nhập khẩu quốc tế.

Đối với cấu phần E100, tổng nguồn cung trong tháng 6/2026 đạt khoảng 121.895 m3, vượt nhu cầu phối trộn thực tế từ 92.000 đến 100.000 m3/tháng (đạt từ 122% đến 133% nhu cầu).

Bước sang tháng 7/2026, tổng nguồn cung dự kiến điều chỉnh về mức 103.700 m3, vẫn bảo đảm đạt từ 104% đến 113% nhu cầu thị trường, mặc dù biên độ dự phòng đã giảm đáng kể. Sự ổn định này có đóng góp chủ đạo của các tập đoàn năng lượng quốc gia. Trong đó,  Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) dẫn đầu với 62.000 m3 trong tháng 6 và dự kiến 55.000 m3 trong tháng 7, Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) đứng thứ hai với lần lượt 30.690 m3 và 18.200 m3. Bên cạnh đó, sự tham gia tích cực của các thương nhân đầu mối khác như Thanh Lễ, Hải Linh, Saigon Petro, Anh Phát, Xăng dầu Quân đội đã tạo nên nguồn cung đa dạng, chống đứt gãy cục bộ.

ĐIỂM YẾU LỚN NHẤT LÀ PHỤ THUỘC VÀO NGUỒN E100 NHẬP KHẨU

Mặc dù đạt được những kết quả tích cực, song phân tích sâu vào cấu trúc chuỗi cung ứng xăng sinh học tại Việt Nam, Bộ Công Thương cũng chỉ rõ những rủi ro nội tại mang tính hệ thống. Điểm yếu lớn nhất nằm ở sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn E100 nhập khẩu, khi chiếm tới 73,3% trong tháng 6 và tiếp tục tăng lên mức 78,6% trong tháng 7. Trong khi đó, nguồn cung mua trong nước chỉ chiếm lần lượt 26,7% và 21,4%. Việc phụ thuộc vào nguồn cung ngoại khối khiến thị trường xăng sinh học trong nước dễ bị tổn thương trước các cú sốc về giá, biến động tỷ giá ngoại tệ, rủi ro logistics quốc tế và bất ổn địa chính trị.

Năng lực sản xuất ethanol nội địa hiện tại vừa yếu vừa thiếu ổn định. Cả nước có 4 nhà máy sản xuất ethanol đang hoạt động, nhưng chỉ có 3 nhà máy (Cồn Quảng Nam, Cồn Đồng Nai và Nhiên liệu sinh học Dung Quất) đủ điều kiện sản xuất E100 phục vụ phối trộn xăng sinh học. Tổng công suất thiết kế của các nhà máy này đạt 23.300 tấn/tháng, nhưng công suất vận hành thực tế hiện nay chỉ đạt 15.666 tấn/tháng (khoảng 67,2% công suất thiết kế).

Đáng chú ý, khối lượng mua nội địa giảm từ tháng 6 sang tháng 7 phản ánh bản chất lượng E100 thương nhân đầu mối tiếp nhận trong kỳ gồm cả tồn kho cũ chuyển sang, hoàn toàn không phản ánh trực tiếp năng lực sản xuất phát sinh thực tế trong tháng.

Bên cạnh đó, các nhà máy ethanol nội địa đang đối diện với những khó khăn mang tính cơ cấu. Nhà máy Cồn Quảng Nam phụ thuộc 100% vào nguồn ngô nhập khẩu, thiết bị cũ kỹ và rơi vào tình trạng thiếu vốn hoạt động. Nhà máy Cồn Đồng Nai gặp khó khăn trong việc lên kế hoạch sản xuất ổn định do các doanh nghiệp xăng dầu chủ yếu ký kết hợp đồng mua bán ngắn hạn. Trong khi đó, nhà máy Dung Quất chịu áp lực lớn từ hệ thống xử lý nước thải chưa hoàn thiện, gánh nặng tài chính, thiếu vùng nguyên liệu sắn ổn định và đặc biệt là áp lực cạnh tranh khốc liệt từ nguồn ethanol nhập khẩu giá rẻ.

Thách thức còn lan rộng sang khâu quản lý địa phương và phân phối vùng miền. Tại các địa phương miền núi, do hạ tầng kho chứa hạn chế, việc phối trộn và cung ứng phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn điều phối từ tỉnh khác, làm gia tăng đáng kể chi phí vận chuyển, rủi ro logistics và rủi ro khan hiếm hàng tồn kho. Công tác kiểm nghiệm chất lượng, thống kê phản ánh từ người dân và cập nhật dữ liệu báo cáo giữa các vùng miền vẫn tồn tại sự lệch pha lớn, chưa đồng đều.

TRIỂN KHAI QUYẾT LIỆT CÁC GIẢI PHÁP 

Nhằm khắc phục triệt để các tồn tại trên, đồng thời duy trì đà chuyển đổi bền vững, Bộ Công Thương đã lên kế hoạch hành động với các nhóm nhiệm vụ đồng bộ cần triển khai quyết liệt trong thời gian tới.

Thứ nhất: Hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế điều hành. Theo đó, khẩn trương hoàn thiện, ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định số 83/2014/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu; đồng thời bổ sung, sửa đổi toàn diện các quy chuẩn kỹ thuật về thiết kế cửa hàng, tồn trữ, hệ thống phối trộn và kiểm soát chất lượng nhiên liệu sinh học.

Thứ hai: Bảo đảm vững chắc nguồn cung và năng lực phối trộn. Trước mắt, thực hiện kế hoạch nhập khẩu E100 có dự phòng nghiêm ngặt theo từng tháng để bảo vệ biên an toàn chuỗi cung ứng.

Về dài hạn, từng bước nâng cao tỷ trọng ethanol nội địa thông qua cơ chế ưu tiên tiêu thụ sản phẩm trong nước, khuyến khích hợp đồng mua bán dài hạn, hỗ trợ các gói tín dụng xanh, cơ cấu lại nợ cho các nhà máy và quy hoạch vùng nguyên liệu sắn, ngô bền vững; đồng thời đẩy nhanh tiến độ cấp phép phối trộn cho các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu sau khi Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP tháo gỡ nút thắt về việc thuê phòng thử nghiệm.

Thứ ba: Siết chặt công tác giám sát, kiểm tra thị trường, tăng cường thanh tra toàn diện hoạt động niêm yết giá, bán đúng chủng loại, kiểm soát chất lượng, đo lường và tỷ lệ phối trộn thực tế tại vòi bơm.

Thứ tư: Minh bạch hóa cơ sở dữ liệu kỹ thuật phương tiện. Cục Công nghiệp kết hợp với Cục Xuất nhập khẩu, Hiệp hội các nhà sản xuất Ô tô (VAMA), Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM) và các hãng xe công khai danh mục các dòng xe tương thích tốt với xăng E5, E10. Xây dựng tài liệu hướng dẫn kỹ thuật chi tiết theo từng nhóm phương tiện.

Thứ năm: Theo dõi, đánh giá định lượng tác động môi trường. Duy trì và mở rộng hệ thống trạm quan trắc tự động các chỉ số ô nhiễm không khí mịn, khí độc. Kết hợp phân tích chéo số liệu tiêu thụ xăng E10 với lưu lượng giao thông và điều kiện khí tượng để đưa ra những báo cáo khoa học, khách quan nhất chứng minh hiệu quả bảo vệ môi trường của lộ trình.

Vào cuộc rà soát lại toàn bộ hành vi vi phạm về giá

Trong bối cảnh giá xăng dầu đã được điều chỉnh giảm nhưng các mặt hàng, dịch vụ khác vẫn neo ở mức cao, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống người dân, Lãnh đạo Bộ Công thương khẳng định đã chỉ đạo lực lượng quản lý thị trường ở trung ương và địa phương vào cuộc, rà soát lại toàn bộ các hành vi vi phạm liên quan đến thực hiện pháp luật về giá.

Minh bạch dữ liệu vùng nguyên liệu để cà phê Việt “vượt rào” EUDR

Chỉ còn chưa đầy 6 tháng trước khi EUDR chính thức áp dụng, thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở tiêu chuẩn kỹ thuật mà ở tư duy, sự minh bạch và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu chính xác là điều kiện tiên quyết để bảo vệ uy tín của ngành cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế...

Mưa lũ ở Sơn La gây thiệt hại khoảng 31,1 tỷ đồng

Đợt dông, lốc, mưa lớn kéo dài từ đêm 10 đến ngày 11/7 đã gây lũ ống, lũ quét và sạt lở đất tại nhiều địa phương của tỉnh Sơn La, làm hư hại nhà ở, diện tích sản xuất nông nghiệp, hệ thống giao thông, điện lực và nhiều công trình hạ tầng. Tổng thiệt hại vật chất ban đầu ước tính khoảng 31,1 tỷ đồng, trong đó xã Mường La chịu thiệt hại nặng nhất.

Người Mông tạo sinh kế mới từ du lịch

Xã Tà Xùa (Sơn La), nơi hơn 99% dân số là đồng bào Mông, đang từng bước trở thành điểm đến du lịch sinh thái giàu bản sắc. Sự phát triển của du lịch không chỉ góp phần giảm nghèo, nâng cao thu nhập mà còn tạo việc làm ổn định, giúp nhiều lao động người Mông ở địa phương không còn phải rời quê mưu sinh...

TP.HCM: Tuân thủ yêu cầu môi trường để phát triển khu công nghiệp sinh thái

Trong khoảng 5.000 doanh nghiệp đang hoạt động tại 65 khu công nghiệp và khu chế xuất ở TP. Hồ Chí Minh, không ít đơn vị vẫn đang ở trạng thái bị động: chỉ điều chỉnh khi có quy định mới hoặc chuyển đổi khi khách hàng quốc tế yêu cầu. Tuy nhiên, trước bối cảnh hiện nay, sự chậm trễ này đang khiến doanh nghiệp đối mặt với rủi ro ngày càng lớn...

Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy