Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tháng 5/2026, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn ước đạt 200 nghìn tấn với giá trị 69,2 triệu USD. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu đạt 1,8 triệu tấn, thu về 613,7 triệu USD, giảm 9,8% về khối lượng nhưng tăng 2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Trong 5 tháng đầu năm 2026, giá sắn xuất khẩu bình quân đạt khoảng 342 USD/tấn, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy giá trị gia tăng của sản phẩm sắn đang được cải thiện, dù sản lượng xuất khẩu có xu hướng giảm.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ áp đảo đối với sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam, chiếm tới 92,3% thị phần trong 4 tháng đầu năm 2026. Các thị trường tiếp theo là Malaysia và Đài Loan, mỗi thị trường chỉ chiếm khoảng 1,4%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 10,6%; sang Malaysia tăng 68,9%; và sang Đài Loan tăng 4,6%.
Năm 2025, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam đạt hơn 3,9 triệu tấn, kim ngạch trên 1,26 tỷ USD. Riêng thị trường Trung Quốc chiếm tới 94,1% tổng lượng và 92,6% tổng giá trị xuất khẩu, tương đương khoảng 3,7 triệu tấn với kim ngạch 1,17 tỷ USD.
Sự phụ thuộc quá lớn vào một thị trường khiến ngành sắn Việt Nam dễ bị tác động trước những thay đổi về chính sách, tiêu chuẩn kỹ thuật hay nhu cầu nhập khẩu. Đáng chú ý, Trung Quốc đang ngày càng siết chặt các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và đặc biệt là truy xuất nguồn gốc".
Ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam, cho biết đầu ra của cây sắn vẫn còn nhiều bấp bênh. Hiện chưa tới 5% nông dân trồng sắn ký hợp đồng trực tiếp với nhà máy chế biến, trong khi hơn 95% sản lượng vẫn được giao dịch thông qua thương lái.
Mặc dù cả nước có khoảng 350-380 hợp tác xã có thành viên trồng sắn, nhưng số hợp tác xã chuyên ngành sắn chỉ khoảng 40-50 đơn vị. Các liên kết hợp đồng ổn định mới bao phủ từ 20-25% tổng sản lượng, cho thấy chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ còn khá lỏng lẻo.
Trong bối cảnh đó, việc triển khai lộ trình sử dụng xăng sinh học E10 được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực cho ngành sắn. Hiện cả nước có hơn 517.000 ha sắn cùng nguồn phụ phẩm dồi dào từ sản xuất trồng trọt, tạo dư địa lớn để phát triển ethanol phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh học.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP về thí điểm một số chính sách trong triển khai lộ trình sử dụng xăng E10, có hiệu lực từ ngày 16/6/2026 đến hết ngày 15/6/2028. Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế phát triển vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh học, đồng thời đánh giá và công bố các chỉ số giảm phát thải khi sử dụng xăng sinh học.
Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết Bộ xác định phát triển vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh học theo hướng nâng cao năng suất, đẩy mạnh chế biến sâu và không mở rộng diện tích bằng mọi giá.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến cuối năm 2025, cả nước có khoảng 517.000 ha sắn với sản lượng đạt 10,5 triệu tấn. Diện tích tập trung chủ yếu tại khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên với 251.000 ha; Trung du và miền núi phía Bắc khoảng 112.000 ha; Đông Nam Bộ khoảng 95.000 ha.
Định hướng phát triển ngành sắn đã được cụ thể hóa trong Đề án “Phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”. Theo đó, đến năm 2030, diện tích sắn cả nước sẽ được duy trì ở mức 480.000-510.000 ha, sản lượng củ tươi đạt từ 11,5-12,5 triệu tấn.
Ngành sắn sẽ tập trung phát triển tại 5 vùng trọng điểm gồm Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Khoảng 85% sản lượng sắn tươi sẽ được dành cho chế biến sâu thành tinh bột, ethanol, mì chính và các sản phẩm công nghiệp khác".
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp các nhà máy chế biến, ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm nâng cao giá trị gia tăng, tận dụng tối đa phụ phẩm và giảm thiểu tác động môi trường.
Theo lãnh đạo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, năm 2025 giá thu mua sắn và mía nguyên liệu ở mức thấp trong khi chi phí đầu vào tăng cao đã ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập của người sản xuất. Tuy nhiên, với việc mở rộng sản xuất ethanol từ sắn và mía được kỳ vọng sẽ tạo thêm đầu ra ổn định, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân và thúc đẩy phát triển bền vững ngành hàng.
Để xây dựng vùng nguyên liệu bền vững, ông Mạnh cho rằng cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành công thương và ngành nông nghiệp trong công tác quy hoạch, định hướng phát triển. Đồng thời, các doanh nghiệp sản xuất ethanol cần tăng cường liên kết với nông dân thông qua hợp đồng bao tiêu, hỗ trợ đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi, kho sơ chế và cơ giới hóa thu hoạch.
"Yếu tố quan trọng nhất là người dân tham gia sản xuất nguyên liệu sinh học phải có thu nhập ổn định và hiệu quả kinh tế cao hơn so với các loại cây trồng khác. Chỉ khi đó, việc hình thành và phát triển vùng nguyên liệu mới có thể thành công và bền vững", ông Mạnh khẳng định.
Theo nhận định của các chuyên gia, khi xăng E10 được triển khai trên phạm vi toàn quốc, nhu cầu ethanol có thể đạt khoảng 1 triệu m3 mỗi năm, tạo ra thị trường trị giá khoảng 20.000 tỷ đồng và dòng tiền hơn 10.000 tỷ đồng cho khu vực nguyên liệu nông nghiệp.
Trong khi đó, sản lượng ethanol trong nước hiện mới đạt khoảng 25.000 m3 mỗi tháng. Khoảng cách lớn giữa cung và cầu cho thấy dư địa phát triển của ngành công nghiệp ethanol còn rất rộng mở. Đây không chỉ là cơ hội để nâng cao giá trị cho cây sắn mà còn góp phần đa dạng hóa đầu ra, giảm phụ thuộc vào xuất khẩu và xây dựng nền nông nghiệp xanh, bền vững hơn trong những năm tới.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy nhanh việc xây dựng bản đồ ranh giới đất rừng nhằm hỗ trợ nông sản xuất khẩu đáp ứng quy định EUDR. Đồng thời, các ngành hàng như cà phê, cao su cũng cần bản đồ hóa vùng trồng đến từng thửa đất thay vì chỉ dừng ở cơ sở dữ liệu, tạo nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc, đánh giá rủi ro và nâng cao năng lực quản lý vùng nguyên liệu...
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Đóng góp quan trọng nhất mà VIFC-HCMC có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế quốc gia không đơn thuần là thu hút thêm dòng vốn, mà trở thành nền tảng đáng tin cậy để dòng vốn khu vực và toàn cầu lưu chuyển qua đó...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...