Theo Sylvera, những dự án được đánh giá, xếp hạng ở mức BBB trở lên mức giá 30 USD, trong khi đó nếu ở mức dưới BB thì mức giá giảm đáng kể (còn 8,7 USD, còn nếu chưa rated thì mức giá chỉ khoảng 6,3 USD/tấn CO2e.
Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện khung pháp lý và thể chế cho thị trường carbon. Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Thế giới mới đây vừa công bố báo cáo State and Trends of Carbon Pricing 2026, cập nhật xu hướng các công cụ định giá carbon trên thế giới, bao gồm hệ thống mua bán hạn ngạch phát thải (ETS), thuế carbon và các diễn biến liên quan tới thị trường tín chỉ carbon.
Tại sự kiện diễn ra chiều ngày 2/6/2025 về “Xu hướng định giá carbon 2026: Một số điểm đáng chú ý cho tín chỉ carbon rừng Việt Nam”, chuyên gia đã chỉ ra một số điểm chính của báo cáo của WB và những nội dung đáng lưu ý đối với thị trường tín chỉ carbon rừng đang hình thành ở Việt Nam.
Chia sẻ về công cụ định giá carbon trong báo cáo của WB, ông Nguyễn Trung Thông, Chuyên gia carbon rừng Tổ chức Forest Trends cho biết có 2 công cụ định giá carbon gồm: định giá trực tiếp và định giá gián tiếp. Định giá trực tiếp gồm công cụ tuân thủ (hệ thống trao đổi hạn ngạch ETS, thuế carbon) và cơ chế tạo tín chỉ tự nguyện từ giảm/loại bỏ khí nhà kính được định lượng, xác minh.
Với định giá gián tiếp như thuế tiêu thụ (áp dụng lên nhiên liệu hoặc hàng hóa), trợ cấp nhiên liệu hóa thạch (giảm giá nhiên liệu hóa thạch cho người tiêu dùng/sản xuất).
Thông tin về xu hướng định giá carbon năm 2026, theo báo cáo của WB, trong vòng 10 năm đến tháng 4 năm 2026 đã có 87 quốc gia/vùng lãnh thổ đang áp dụng công cụ tuân thủ (trong đó ETS tăng từ 19 lên 40, còn thuế carbon tăng từ 21 lên 47 quốc gia.
Báo cáo cũng chỉ ra độ bao phủ phát thải từ công cụ chiếm đến 29% tổng phát thải toàn cầu trong đó ETS chiếm khoảng 26%. Đáng chú ý, cơ chế trao đổi hạn ngạch của Việt Nam đã được báo cáo ghi nhận thí điểm năm 2026 với 110 cơ sở, chiếm 0,5% phát thải toàn cầu, thể hiện nỗ lực của Việt Nam tham gia vào bức tranh chung của toàn cầu.
Báo cáo cũng chỉ ra doanh thu thị trường toàn cầu năm là 107 tỷ USD, tăng 2% so với năm trước, trong đó hệ thống ETS chiếm 80 tỷ USD và công cụ thuế 27 tỷ USD.
Một xu hướng khá nổi bật trong báo cáo được chuyên gia nhấn mạnh đó là tín chỉ rừng không còn “một giá” và giá sẽ được quyết định bởi xếp hạng chất lượng. Đáng chú ý, tỷ trọng nguồn cung dịch chuyển khi trong ngành lâm nghiệp và sử dụng đất đã tăng lên 36%, trong khi đó lĩnh vực năng lượng tái tạo lại giảm 38% so với kỳ báo cáo trước.
Chuyên gia này nhấn mạnh thông điệp: cùng một loại dự án rừng, cùng 1 tín chỉ carbon nhưng không phải của dự án nào từ rừng hay từ các loại hình dựa vào thiên nhiên đều có mức giá giống nhau. Với những dự án xếp hạng chất lượng tạo ra sự chênh lệch giá lên đến 5 lần.
Theo Sylvera, những dự án được đánh giá, xếp hạng ở mức BBB trở lên mức giá 30 USD, trong khi đó nếu ở mức dưới BB thì mức giá giảm đáng kể (còn 8,7 USD, còn nếu chưa rated thì mức giá chỉ khoảng 6,3 USD/tấn CO2e.
Giá tín chỉ không chỉ liên quan đến chất lượng mà cả loại hình. Theo báo cáo, với loại hình ARR (rừng trồng mới, phục hồi rừng) có thể đạt mức giá 14 USD/tín chỉ, với REDD+ Đông Nam Á đã phục hồi từ mức 6 USD (tháng 7/2025) lên 12 USD/tín chỉ.
Đáng chú ý tín chỉ gắn nhãn CORSIA mặc dù đã giảm so với tháng 9/2025 nhưng vẫn ở mức ấn tượng (khoảng 15 USD/tín chỉ).
Về thức tham gia, tín hiệu về nhu cầu tương lai rất lớn với các hợp đồng mua giao tín chỉ hình trong tương lai (Offtake) tăng lên gấp 3 lần trong đó các tín chỉ từ thiên nhiên chiếm tỷ lệ 19% (khoảng 2,3 tỷ USD).
Sự dịch chuyển cuộc chơi sang Offtake được xác định là yếu tố quan trọng giúp huy động dòng vốn, tìm kiếm, xây dựng dự án từ sớm. Dòng vốn 12 tỷ USD (năm 2025) đang tìm kiếm dự án từ sớm. Điều này cũng đặt ra thách thức không nhỏ khi người mua đòi hỏi yêu cầu sự minh bạch về mặt pháp lý, quyền carbon rõ ràng và một hồ sơ đầu tư an toàn.
“Có thể thấy, một điểm rất đáng chú ý được báo cáo này chỉ ra đó là bên mua bắt đầu có xu hướng tiếp cận và có các cái cam kết từ trước khi tín chỉ carbon đó được phát hành”, ông Thông phân tích.
Ngoài ra, với xu hướng hội tụ, khi những tín chỉ carbon có chất lượng cao được tạo ra đang phục vụ cả hai thị trường tuân thủ và tự nguyện. Điều này tạo sức cạnh tranh và được dự báo sẽ ngày càng gắt giao hơn cho cùng một tín chỉ carbon rừng chất lượng cao khi các yêu cầu tiêu chuẩn ngày càng thắt chặt.
Nhìn nhận về những xu hướng mới nổi lên về cách mua và cấu trúc tài chính, ông Thông chỉ rõ sự dịch chuyển từ Spot- giao dịch giao ngay- sang quan hệ về đầu tư dài hạn. Điều này cho thấy những cơ hội gợi mở về việc sớm góp vốn cho các dự án.
Các dự án dựa vào thiên nhiên, dự án rừng là rất dài hơi nên khi có sự tham gia góp vốn cũng là cách để cho người mua có thể chốt được giá cho các tín chỉ hình thành trong tương lai. Quan trọng hơn, điều này cũng thể hiện sự sẵn sàng tham gia của người mua chia sẻ lợi ích, sẻ rủi ro, để có thể đảm bảo nguồn cung.
Cùng với đó là xu hướng nhu cầu đa dạng hóa khi nhiều người mua cần một nhóm các dự án để quản lý, hạn chế rủi ro nhưng cũng yêu cầu cao hơn về chứng minh lợi ích cộng đồng và đa dạng sinh học.
Theo chuyên gia, từ những diễn biến xu hướng trên cho thấy rõ nếu muốn sự tham gia của nhà đầu tư, người mua thì yêu cầu sự chuẩn bị sẵn sàng đối với dự án sẽ đòi hỏi ngày càng cao hơn để đảm bảo tín chỉ carbon đạt được chất lượng cao nhất. Đồng thời, các yêu cầu về mặt pháp lý cũng cần phải rõ ràng và phải được chuẩn bị đầy đủ hơn.
“Rõ ràng đây phải là một hồ sơ để kêu gọi đầu tư chứ không chỉ đơn thuần là hồ sơ để bán tín chỉ một cách thuần túy”, ông Thông nhấn mạnh.
Ở thị trường trong nước, hiện nay, Việt Nam đã hình thành khung khổ pháp lý tương đối đầy đủ cho thị trường carbon và việc vận hành theo lộ trình được quy định cụ thể. Thị trường sẽ định giá theo chất lượng và mục đích sử dụng tín chỉ đó thế nào phải được chốt ngay từ khâu thiết kế.
TS Nguyễn Sỹ Linh, Trưởng ban Biến đổi khí hậu, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường khẳng định, tín chỉ carbon là một loại hàng hóa rất đặc biệt, có thể tham gia giao dịch thị trường, tạo thu nhập. Tuy nhiên, điều này cũng đòi hỏi những nỗ lực, đáp ứng quy định, yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn, chất lượng của dự án.




Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 31-2026 phát hành ngày 03/08/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Công nghiệp, xe điện, điều hòa không khí và trung tâm dữ liệu tiếp tục thúc đẩy sự gia tăng mạnh mẽ trong việc sử dụng điện trên toàn thế giới...
Những tiến bộ trong dữ liệu khí hậu, mô hình dự báo và phương pháp phân tích đang giúp các nhà khoa học ngày càng xác định rõ mức độ tác động của biến đổi khí hậu đối với các hiện tượng thời tiết cực đoan. Các kết quả này không chỉ nâng cao hiểu biết về rủi ro khí hậu mà còn cung cấp cơ sở quan trọng cho hoạch định chính sách, đầu tư hạ tầng và tăng cường khả năng thích ứng trước các thiên tai ngày càng khốc liệt…
Ngoài nguy cơ hạn hán, lũ lụt và bão, hiện tượng "siêu" El Nino còn có thể làm hư hại cơ sở hạ tầng, gây sức ép lên ngân sách và hệ thống ngân hàng của các nước nghèo...
Biện pháp này bổ sung cho khung kiểm soát rủi ro hiện hành, đồng thời tăng cường khả năng chống chịu trong quá trình triển khai chính sách tiền tệ của ECB...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Những nếp nhà sàn nép mình bên sườn núi, thửa ruộng bậc thang uốn lượn hay bữa cơm đậm hương vị bản địa đang trở thành "điểm chạm" níu chân du khách. Từ những giá trị vốn có, nhiều vùng cao đã biến du lịch cộng đồng thành động lực phát triển kinh tế và nâng cao đời sống người dân.