Tín chỉ carbon rừng được bán theo hợp đồng, trên sàn giao dịch carbon từ 15/7

Quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng vừa được Chính phủ ban hành đã thiết lập khung pháp lý đầy đủ để các địa phương, chủ rừng triển khai dịch vụ; thúc đẩy phát triển thị trường carbon rừng, tạo nguồn thu mới, nâng cao thu nhập cho chủ rừng và người dân...

Chỉ được trao đổi, chuyển nhượng lượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng sau khi được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận
Chỉ được trao đổi, chuyển nhượng lượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng sau khi được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Có hiệu lực từ ngày 15/7/2026, Nghị định quy định về đối tượng, hình thức chi trả, mức chi trả và quản lý, sử dụng tiền dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng; dự án carbon rừng, xác định kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon rừng được cung ứng.

CHỦ RỪNG ĐƯỢC HỢP TÁC, LIÊN KẾT VỚI TỔ CHỨC, CÁ NHÂN THỰC HIỆN DỰ ÁN CARBON RỪNG

Theo Nghị định, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng là hoạt động cung ứng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon rừng. Kết quả giảm phát thải khí nhà kính của rừng là lượng giảm phát thải khí nhà kính và lượng tăng hấp thụ carbon của rừng tại thời điểm xác định so với thời điểm tham chiếu theo tiêu chuẩn carbon rừng trong nước hoặc tiêu chuẩn carbon rừng quốc tế, được tính bằng tấn CO2 hoặc tấn CO2 tương đương.

Dự án carbon rừng là dự án tạo ra kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng từ hoạt động hạn chế mất rừng và suy thoái rừng; bảo tồn, nâng cao trữ lượng carbon và quản lý bền vững tài nguyên rừng (REDD+); trồng rừng, xúc tiến tái sinh tự nhiên; làm giàu rừng, nuôi dưỡng rừng tự nhiên; nâng cao năng suất, kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng trồng; canh tác lâm nông kết hợp và trồng cây phân tán.

Nghị định xác định rõ nguyên tắc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ, lưu giữ carbon của rừng phải đảm bảo công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; đồng thời hài hòa lợi ích giữa nhà nước, chủ rừng và các bên liên quan, đảm bảo quốc phòng an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái.

Việc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng không được ảnh hưởng đến việc thực hiện cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính mà Việt Nam tham gia.

Kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng đã được trao đổi, chuyển nhượng theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon thì bên cung ứng hoặc đại diện chủ sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng không được trao đổi, chuyển nhượng cho các bên sử dụng khác.

Chủ rừng được sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng tạo ra từ dự án carbon rừng do chủ rừng thực hiện. Ảnh minh họa
Chủ rừng được sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng tạo ra từ dự án carbon rừng do chủ rừng thực hiện. Ảnh minh họa

Đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, Bộ Nông nghiệp và Môi trường là đại diện chủ sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng tạo ra từ dự án carbon rừng do cơ quan chuyên môn thuộc Bộ thực hiện;

UBND cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng tạo ra từ dự án carbon rừng do cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh (cơ quan chuyên môn cấp tỉnh) thực hiện;

Chủ rừng được sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng tạo ra từ dự án carbon rừng do chủ rừng thực hiện.

Nguồn tiền thu được từ trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng của chủ rừng là tổ chức đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân được ưu tiên hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng và sinh kế cho cộng đồng dân cư, xây dựng dự án carbon rừng, đo đạc, báo cáo, thẩm định và xây dựng cơ sở dữ liệu về lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Việc trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng ra thị trường quốc tế thực hiện theo quy định của Chính phủ về trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon.

Đáng chú ý, chủ rừng được hợp tác, liên kết với tổ chức, cá nhân để thực hiện dự án carbon rừng; xây dựng, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ carbon rừng và chia sẻ kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng theo quy định.

XÁC ĐỊNH GIÁ TRAO ĐỔI, CHUYỂN NHƯỢNG KẾT QUẢ GIẢM PHÁT THẢI, TÍN CHỈ CARBON RỪNG

Nghị định yêu cầu với bên cung ứng dịch vụ hoặc đại diện chủ sở hữu đáp ứng các yêu cầu xây dựng, đăng ký dự án carbon rừng; tổ chức đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải; được cấp tín chỉ carbon rừng theo quy định; thực hiện nghĩa vụ đóng góp kết quả giảm phát thải và các nghĩa vụ tài chính về thuế, phí, lệ phí (nếu có) theo quy định.

Việc cung ứng dịch vụ được thực hiện thông qua trao đổi, chuyển nhượng theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon; chỉ được trao đổi, chuyển nhượng lượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng sau khi được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận.

Bên sử dụng dịch vụ đáp ứng các yêu cầu hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp và pháp luật khác có liên quan của Việt Nam; thực hiện đúng nội dung theo hợp đồng quy định hoặc tuân thủ quy định của Chính phủ về sàn giao dịch carbon trong nước và các sàn giao dịch carbon khác; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về thuế, phí, lệ phí (nếu có) theo quy định.

Theo quy định, bên sử dụng dịch vụ trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon. Bên sử dụng dịch vụ trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng theo hợp đồng quy định hoặc trên sàn giao dịch carbon.

Nghị định quy định, mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng là số tiền được tính bằng Đồng Việt Nam trên 1 tấn CO2 hoặc 01 tấn CO2 tương đương hoặc 01 tín chỉ carbon rừng. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân.

hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng là một trong 5 loại dịch vụ môi trường rừng. Ảnh minh họa
hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng là một trong 5 loại dịch vụ môi trường rừng. Ảnh minh họa

Giá trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng được xác định thông qua hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon được tính bằng đồng Việt Nam. Trường hợp chuyển nhượng ra nước ngoài, giá trao đổi, chuyển nhượng được tính bằng ngoại tệ theo quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý ngoại hối. 

Mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân được xác định theo nguyên tắc bù đắp chi phí xây dựng, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp, xác nhận kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng; hỗ trợ chi phí bảo vệ và phát triển rừng, hỗ trợ phát triển kinh kế; thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.

Bên cạnh đó, phải phù hợp với quan hệ cung- cầu và điều kiện thị trường tại thời điểm xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng. Việc xác định mức chi trả cũng theo nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân cung ứng và sử dụng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng.

Tại cuộc họp xây dựng nghị định này mới đây, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chỉ rõ: hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng là một trong 5 loại dịch vụ môi trường rừng theo quy định tại Luật Lâm nghiệp năm 2017. Tuy nhiên đến nay chưa được triển khai do thiếu quy định pháp lý cụ thể.

Phó Thủ tướng nhấn mạnh, việc ban hành Nghị định này là hết sức cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay để tạo khung pháp lý đầy đủ, thống nhất cho các địa phương, các chủ rừng triển khai dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng. Đồng thời, quy định rõ cơ chế cung ứng, trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ carbon rừng; thúc đẩy thị trường carbon rừng.

Theo Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, việc ban hành Nghị định sẽ giải quyết các tồn tại, vướng mắc, phát huy tiềm năng lĩnh vực lâm nghiệp; thiết lập khung pháp lý đầy đủ để các địa phương, chủ rừng triển khai dịch vụ; thúc đẩy phát triển thị trường carbon rừng, tạo nguồn thu mới, nâng cao thu nhập cho chủ rừng và người dân. Nghị định cũng góp phần vào mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính (NDC) và các cam kết quốc tế của Việt Nam.

Trong lĩnh vực lâm nghiệp có 5 dịch vụ môi trường rừng (du lịch sinh thái, thủy điện, nước sạch, nuôi trồng thủy sản) đã có quy định rõ, chỉ còn dịch vụ lưu giữ carbon là mảnh ghép cuối cùng để hoàn thiện khung pháp lý, giúp huy động nguồn lực tài chính cho người dân tham gia bảo vệ rừng.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường dự kiến hoàn thành việc thẩm định, cấp tín chỉ carbon rừng cho năm 2021-2022 vào quý II/2026 và trình đề nghị cấp tín chỉ carbon rừng cho giai đoạn 2023- 2025 vào quý III/2026.

Cần xây dựng một cơ chế quản trị chất lượng không khí vùng hoàn chỉnh

Khi nguồn phát thải, điều kiện khí tượng và quá trình lan truyền ô nhiễm từ địa phương này có thể tác động đồng thời đến nhiều địa phương khác, việc kiểm soát ô nhiễm không khí cần được tiếp cận ở quy mô vùng. Từ nền tảng quản trị theo không gian môi trường hiện nay cần tiến tới xây dựng một cơ chế quản trị chất lượng không khí vùng hoàn chỉnh hơn...

Băng tan đang tái định hình các đại dương vùng cực

Băng biển Bắc Cực đang thu hẹp nhanh chóng, nhiệt độ đại dương tăng mạnh và môi trường sống của nhiều loài sinh vật bị suy giảm. Những biến đổi tại hai cực Trái đất không chỉ là vấn đề môi trường mà còn làm gia tăng rủi ro đối với hạ tầng ven biển và các cộng đồng phụ thuộc vào đại dương…

Kinh nghiệm xây dựng, thu hút đầu tư vào các dự án carbon xanh dương

Với một dự án carbon nói chung, một trong những yêu cầu quan trọng là dữ liệu minh bạch và đáng tin cậy bởi đó sẽ là nền tảng để có thể làm việc cùng khách hàng và nhà đầu tư tiềm năng liên quan. Các nhà đầu tư cần có những thông tin minh bạch để đưa ra những quyết định, đặc biệt cho những dự án mang tính phức tạp như dự án carbon xanh dương...

Đề nghị giữ quy định tần suất kiểm kê khí nhà kính 2 năm

Trường hợp các yêu cầu, quy định quốc tế có thay đổi thì nghiên cứu điều chỉnh phù hợp. Không nên đặt thêm yêu cầu kiểm kê hằng năm khi chưa cần thiết, nhất là trong bối cảnh đang hoàn thiện chính sách để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng cao.

Sau hơn 20 năm, ngành gỗ và nội thất Việt Nam đã vươn lên và nằm trong nhóm những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở khâu sản xuất, trong khi năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường còn hạn chế. Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành cần chuyển từ thích ứng sang chủ động kiến tạo và làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu.

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy