Tại hội thảo trực tuyến "Tăng tốc đầu tư công, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng của Thành phố Hồ Chí Minh", ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright đã phân tích bức tranh tổng quan về đầu tư công của TP.Hồ Chí Minh.
Sau khi sáp nhập với hai địa phương lân cận là Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, TP.Hồ Chí Minh đã trở thành một trong những địa phương đầu tàu có quy mô kinh tế vượt trội so với các đô thị khác, bao gồm cả Hà Nội.
Quy mô kinh tế của thành phố năm nay dự kiến có thể đạt trên dưới 3 triệu tỷ đồng, một con số rất lớn tương đương với quy mô kinh tế Việt Nam cách đây khoảng hơn một thập niên rưỡi. Điều này đòi hỏi năng lực quản trị và điều hành thành phố không khác gì điều hành cả nước cách đây một đến hai thập niên, và đó là một thách thức rất lớn, nhất là trong giai đoạn ngắn hạn.
Với mục tiêu tăng trưởng 8,5% trong năm nay, cùng mục tiêu chung của cả nước, và với quy mô chiếm khoảng 23% GDP cả nước, nếu TP.Hồ Chí Minh không đạt được đích 8,5% sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu chung mà Chính phủ đề ra cho cả nước. Bối cảnh này đặt ra câu hỏi về vai trò của đầu tư công trong việc thúc đẩy tăng trưởng và liệu tăng trưởng đầu tư công của thành phố sẽ đóng góp như thế nào vào mục tiêu 8,5%?
Sau sáp nhập, mặc dù quy mô thành phố lớn hơn và nhiều mắt xích được mở ra, nhưng cũng xuất hiện nhiều chồng chéo và bất cập. Đó là những bất cập nội tại của bản thân các địa phương cũ như TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu. Khi sáp nhập, nhiều thách thức mới cũng bộc lộ rõ nét, nhất là trong giai đoạn ngắn hạn.
Tổng vốn đầu tư công sau hợp nhất của ba địa phương là hơn 151.000 tỷ đồng, trong đó TP.HCM chiếm gần 90.000 tỷ, Bình Dương khoảng 36.000 tỷ và Bà Rịa - Vũng Tàu khoảng 30.000 tỷ. Tỷ lệ giải ngân của thành phố chỉ đạt khoảng 43% theo kế hoạch của Thủ tướng, và chỉ đạt 36-37% theo kế hoạch của Hội đồng nhân dân. Con số này thấp hơn nhiều so với tiến độ chung của cả nước.
Trong cơ cấu đầu tư công, TP.Hồ Chí Minh cũ vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, gần 60% tổng vốn. Về tỷ trọng vốn đầu tư công so với GDP, mặc dù thành phố đã nỗ lực đẩy lên 6% GDP, cao hơn các năm trước (khoảng 4-4,5%), nhưng vẫn thấp hơn so với mức bình quân cả nước là 9% GDP. Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, thành phố cần nâng tổng đầu tư toàn xã hội lên mức 30%, và đầu tư công cần nâng tỷ trọng từ 21-22% hiện nay lên khoảng 1/3 tổng đầu tư xã hội.
Phân tích chi tiết cơ cấu vốn đầu tư công của TP.Hồ Chí Minh mới, ông Anh Tuấn cho biết TP.Hồ Chí Minh cũ vẫn là địa phương chiếm tỷ trọng chủ yếu, gần 60% tổng cơ cấu đầu tư công của thành phố mới. Trong khi đó, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương có tỷ trọng lần lượt là khoảng 23% và 18%.
Về tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội, mục tiêu chung của cả nước là khoảng 33% GDP. Tuy nhiên, con số này ở TP.Hồ Chí Minh rất hạn chế và thấp. Tỷ trọng đầu tư công của thành phố trong tổng đầu tư xã hội hiện nay chỉ khoảng 21-22%, trong khi bình quân cả nước là khoảng 1/3, tương đương 33% tổng cơ cấu đầu tư xã hội.
Do đó, nếu đầu tư xã hội chiếm 33% GDP thì đầu tư công chiếm khoảng 9% GDP, trong khi con số của TP.Hồ Chí Minh chỉ là 6% GDP. Để đạt mục tiêu tăng trưởng 8,5%, thành phố cần nâng tổng đầu tư toàn xã hội lên tiệm cận 30%, và đầu tư công cũng phải nâng tỷ trọng từ 21-22% lên khoảng 1/3 tổng đầu tư xã hội. Song việc nâng tỷ trọng và giải ngân được vốn là hai câu chuyện khác nhau.
Về cơ cấu vốn, vốn đầu tư công từ nguồn ngân sách vẫn là chủ yếu, chiếm khoảng 72% tổng vốn đầu tư công của TP.Hồ Chí Minh mới. Ngoài ra, vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 9-10%. Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước có vai trò nổi bật ở TP.Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu, một số doanh nghiệp nhà nước có tỷ trọng vốn đầu tư tương đối cao, khoảng 9% đến 12% ở từng địa phương. Các nguồn huy động vốn khác chiếm khoảng 10%. Vốn vay chủ yếu ở TP.Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu, trong đó TP.Hồ Chí Minh phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để huy động vốn tài trợ các dự án đầu tư công.
Đưa ra bức tranh về tỷ lệ giải ngân, ông Anh Tuấn cho biết tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của TP.HCM từ đầu năm đến nay đều thấp hơn so với cả nước. Đặc biệt, sau khi tăng vọt lên gần 30% vào thời điểm tháng 6 để báo cáo nửa kỳ, từ đó đến nay, việc giải ngân rất chậm chạp, chỉ khoảng 1-2% mỗi tháng.
“Điều này làm cho chúng ta rất sốt ruột về khả năng hoàn thành được mục tiêu giải ngân cả năm nay mà TP.Hồ Chí Minh đề ra 90%, hay gần đây trong cuộc họp Thủ tướng cũng chỉ đạo yêu cầu là phải giải ngân cả 100%. Đây rõ ràng là một cái thách thức rất lớn cho TP.Hồ Chí Minh”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Mặc dù tốc độ giải ngân chậm, song ông Anh Tuấn cũng chỉ ra một điểm sáng quan trọng. Đó là hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của TP.Hồ Chí Minh tương đối tốt và thấp hơn nhiều so với bình quân cả nước. Hệ số ICOR (hệ số gia tăng vốn sản lượng) của thành phố tốt hơn nhiều so với mặt bằng chung của cả nước, cho thấy hiệu suất vốn đầu tư của vùng TP.Hồ Chí Minh cao hơn hẳn các vùng kinh tế khác. Điều này chứng minh rằng TP.Hồ Chí Minh là nơi có khả năng hấp thụ vốn đầu tư rất tốt, tạo ra hiệu quả sử dụng vốn và tăng trưởng cao.
Đưa ra kịch bản tích cực, ông Anh Tuấn cho rằng nếu thành phố giải ngân hết hơn 151.000 tỷ đồng vốn đầu tư công theo kế hoạch và cải thiện hiệu quả sử dụng vốn ở mức ICOR là 3,07, TP.Hồ Chí Minh hoàn toàn có khả năng đạt được mục tiêu tăng trưởng 8,5%. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh rằng việc nâng cao tỷ lệ giải ngân từ 43,3% hiện tại lên 80%, 90% hay thậm chí 100% là một thách thức lớn.
Không gian biển đang trở thành một trong những nguồn lực phát triển chiến lược của Việt Nam, nhưng đây cũng là nguồn lực hữu hạn khi ngày càng nhiều ngành kinh tế cùng tìm kiếm những khu vực có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển. Trong bối cảnh đó, quy hoạch không gian phải trở thành công cụ kiến tạo giá trị, điều phối các lợi ích và tổ chức những không gian phát triển đa mục tiêu…
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Từ những thành công của mô hình “Cà phê Doanh nhân” tại địa phương, tỉnh Phú Thọ tiếp tục mở rộng không gian đối thoại với các doanh nghiệp tại châu Âu nhằm trực tiếp lắng nghe ý kiến của các nhà đầu tư, chuyên gia Đức về cơ hội hợp tác trong công nghiệp, chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và dữ liệu…
Tại lễ kỷ niệm 145 năm Đường sắt Việt Nam, 80 năm Ngày truyền thống ngành Đường sắt, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam đổi mới mô hình hoạt động, làm chủ công nghệ, phát triển công nghiệp đường sắt và khai thác hiệu quả nguồn lực từ hệ thống nhà ga...
Năm 2026 tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng: là năm đầu của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ba phần tư chặng đường của năm đã đi qua, nền kinh tế đạt những kết quả tích cực, song vẫn còn không ít vấn đề cần được giải quyết để hoàn thành các mục tiêu đề ra cho cả năm.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.