TP.Hồ Chí Minh đang đồng thời triển khai một khối lượng lớn dự án giao thông, đô thị, đường sắt và hạ tầng kỹ thuật. Với nhu cầu vốn rất lớn, khoảng 2,17 triệu tỷ đồng, Thành phố đang chuyển từ cách tiếp cận dựa chủ yếu vào ngân sách sang tổ chức các dự án theo hướng kết hợp vốn công với PPP và đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp.
Theo kế hoạch, danh mục công trình, dự án trọng điểm giao thông và hạ tầng kỹ thuật phải hoàn thành trong giai đoạn 2025 - 2030 gồm 98 dự án, với tổng vốn khoảng 1,5 triệu tỷ đồng.
Bên cạnh đó, Thành phố bước vào giai đoạn phát triển mạnh mạng lưới đường sắt đô thị với mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành 8 tuyến với tổng chiều dài khoảng 255 km, nhu cầu vốn khoảng 672.519 tỷ đồng.
Tính chung 106 dự án gồm 98 dự án giao thông, hạ tầng kỹ thuật và 8 dự án metro, nhu cầu vốn lên tới hơn 2,17 triệu tỷ đồng. Trong đó, phần vốn thuộc các dự án đầu tư công khoảng 752.408 tỷ đồng, chiếm 34,6%; các dự án theo phương thức PPP và đầu tư trực tiếp khoảng 1.421.387 tỷ đồng, chiếm 65,4%.
Nó cách khác, cứ 100 đồng vốn dành cho nhóm dự án hạ tầng lớn của TP.Hồ Chí Minh, thì khoảng 65 đồng được xác định đến từ khu vực ngoài đầu tư công. Cơ cấu này đặt ra một thay đổi lớn trong cách TP.Hồ Chí Minh tổ chức đầu tư hạ tầng. Vốn đầu tư công không chỉ được nhìn như nguồn tiền để trực tiếp làm công trình, mà còn được sử dụng để tạo nền tảng, chia sẻ rủi ro và mở đường cho các nguồn vốn xã hội tham gia.
Thực tế triển khai thời gian qua cho thấy khu vực tư nhân đã xuất hiện ở nhiều dự án có quy mô lớn. Vành đai 4 đang được chuẩn bị các dự án PPP; cao tốc TP.Hồ Chí Minh - Thủ Dầu Một - Chơn Thành đã khởi công theo phương thức PPP; metro Bến Thành - Thủ Thiêm cũng được triển khai theo PPP.
Ở lĩnh vực đường sắt đô thị, TP.Hồ Chí Minh còn cho phép các nhà đầu tư chiến lược nghiên cứu một số tuyến bằng nguồn vốn doanh nghiệp. Trong kế hoạch mới, thành phố tiếp tục yêu cầu nghiên cứu và đề xuất cơ chế huy động linh hoạt các nguồn vốn, gồm ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, PPP, đầu tư công và các nguồn lực hợp pháp khác.
Quy mô vốn tư nhân được đặt vào hạ tầng ngày càng lớn cũng kéo theo yêu cầu thay đổi cách chuẩn bị và tổ chức dự án.
Một dự án hạ tầng muốn thu hút doanh nghiệp không chỉ cần một chủ trương đầu tư, mà còn phải xác định được phương án tài chính, cơ chế chia sẻ rủi ro, quỹ đất và không gian phát triển liên quan, cũng như khả năng khai thác nguồn thu trong suốt vòng đời công trình.
Đây cũng là lý do TP.Hồ Chí Minh đang gắn phát triển hạ tầng giao thông với mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD). Thành phố đang xác định vị trí nhà ga, hướng tuyến và phạm vi các khu vực TOD cho các tuyến đường sắt đô thị ưu tiên, qua đó tạo sự liên kết giữa đầu tư giao thông và tổ chức lại không gian đô thị.
Cách làm này mở ra khả năng để một dự án giao thông không chỉ tạo ra một tuyến đường hay một tuyến metro, mà còn kéo theo sự phát triển của các khu vực đô thị, dịch vụ và thương mại xung quanh. Đây là một trong những cơ sở để huy động nguồn lực xã hội tham gia sâu hơn vào hạ tầng.
Trong thực tế, khu vực tư nhân cũng đang tham gia theo hướng ngày càng đa dạng. Các doanh nghiệp lớn nghiên cứu và triển khai dự án đường sắt đô thị, cầu, đường bộ, cảng biển, khu liên hợp thể thao và các không gian đô thị. Riêng nhóm dự án trọng điểm được triển khai trong các đợt gần đây đã có tổng vốn hàng trăm ngàn tỷ đồng, với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư chiến lược.
Tuy nhiên, khi tỷ trọng vốn ngoài đầu tư công đã chiếm phần lớn trong nhu cầu vốn của nhóm dự án hạ tầng lớn, yêu cầu đối với Thành phố cũng thay đổi tương ứng. Nếu trước đây trọng tâm là bố trí đủ vốn ngân sách và giải phóng mặt bằng, thì với các dự án PPP và đầu tư trực tiếp, tiến độ chuẩn bị dự án, tính khả thi tài chính, cơ chế hợp đồng và khả năng phối hợp giữa các bên trở thành những khâu quyết định.
TP.Hồ Chí Minh đang đặt mục tiêu hoàn thành 255 km đường sắt đô thị vào năm 2030 và tiếp tục phát triển mạng lưới lên 532 km vào năm 2035. Cùng với đó là hàng loạt dự án đường bộ, vành đai, cao tốc, cầu và hạ tầng cảng biển.
Khối lượng đầu tư này vượt xa khả năng chỉ dựa vào một nguồn vốn. Vì vậy, bài toán huy động tư nhân đang được đặt song song với bài toán tổ chức lại phương thức đầu tư, để vốn công và vốn tư nhân cùng tham gia vào những phần việc phù hợp trong một mạng lưới hạ tầng ngày càng lớn của Thành phố.
VIFC-HCMC công bố 10 thành viên đầu tiên với tổng vốn điều lệ đăng ký và cam kết góp 33,63 triệu USD, cùng kế hoạch huy động và đầu tư khoảng 2,7 tỷ USD đến năm 2027, tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng, giáo dục, năng lượng, logistics và công nghệ tài chính.
Ngày 27/10, tại Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài (Hà Nội), Vietravel Airlines chính thức tiếp nhận thêm tàu bay Airbus A321 mang số hiệu VN-A295, tiếp tục hiện thực hóa kế hoạch mở rộng quy mô đội tàu trong năm 2026.
Bộ Xây dựng trình Quốc hội chủ trương đầu tư hai tuyến cao tốc Bảo Hà - Tân Phong và Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên qua tỉnh Sơn La, với tổng vốn sơ bộ hơn 114.000 tỷ đồng, dự kiến khởi công năm 2027 và cơ bản hoàn thành năm 2030...
Sau hơn 5 tháng triển khai, 16 doanh nghiệp sản xuất tại miền Bắc ghi nhận những cải thiện về năng suất, quy trình quản lý và ứng dụng dữ liệu thông qua hai chương trình tư vấn nhà máy thông minh và khuôn mẫu thông minh...
Trong giai đoạn đầu khai thác sân bay Long Thành, khi các tuyến đường sắt kết nối chưa vận hành, ACV đề xuất tổ chức xe trung chuyển trực tiếp giữa hai sân bay Long Thành và Tân Sơn Nhất, đồng thời nghiên cứu cơ chế ưu tiên lưu thông cho xe buýt sân bay nhằm bảo đảm kết nối thuận tiện, thông suốt...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.