Theo đại biểu Phan Thị Mỹ Dung (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tây Ninh), cùng một sự kiện doanh nghiệp/hợp tác xã có nguy cơ hoặc mất khả năng thanh toán nhưng phát sinh 2 tình huống pháp lý.
Đó là chủ doanh nghiệp có quyền yêu cầu nộp đơn phục hồi còn chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản. Đại biểu cho rằng điều này dẫn đến xung đột thẩm quyền, kéo dài tố tụng, ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ nợ và hiệu quả cải cách tư pháp.
Ngoài ra, dự thảo cũng chưa làm rõ khái niệm “mất khả năng thanh toán trong trường hợp áp dụng thủ tục phục hồi” hoặc trường hợp nào thì áp dụng thủ tục phá sản mà chỉ dùng khái niệm chung là “mất khả năng thanh toán”.
Đại biểu Phan Thị Mỹ Dung cũng phân tích thêm về điều 5 dự thảo quy định “Doanh nghiệp, hợp tác xã có nguy cơ mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán được khoản nợ sẽ đến hạn trong 06 tháng hoặc khoản nợ đã đến hạn nhưng chưa quá 06 tháng”.
Còn “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”.
Theo đại biểu, báo cáo giải trình của Tòa án nhân dân tối cao cho thấy các khoản nợ bao gồm nợ lương nhân viên, vay ngân hàng, thuế, bảo hiểm, vay dân sự… không phân biệt nợ ngắn hạn, nợ dài hạn.
“Những vấn đề then chốt này không được phân định rõ ràng, minh bạch thì tiêu chí mất khả năng thanh toán để doanh nghiệp, hợp tác xã được đưa vào diện phục hồi hoặc phá sản bị chồng chéo, mâu thuẫn trong giải quyết cũng như bị lạm dụng khi cạnh tranh không lành mạnh.
Chỉ vì một khoản nợ dân sự nhỏ mà tạo điều kiện cho đối thủ cạnh tranh hoặc chủ nợ dùng thủ tục phá sản để gây áp lực, sẽ ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp, làm giảm cổ phiếu, giảm khả năng giao dịch, khả năng tiếp cận vốn. Hoặc chủ doanh nghiệp, hợp tác xã lợi dụng chính sách phục hồi để cố tình kéo dài thời gian thanh toán nợ”, đại biểu Phan Thị Mỹ Dung phân tích thêm.
Đại biểu Nguyễn Danh Tú (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang) cũng cho rằng dự thảo quy định khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, người đại diện theo pháp luật vừa có quyền nộp đơn phục hồi, vừa có nghĩa vụ nộp đơn phá sản, nếu không thực hiện còn phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Cùng một tình trạng pháp lý nhưng dẫn đến hai kết quả khác nhau khiến doanh nghiệp rơi vào thế mâu thuẫn. Đại biểu đề nghị rà soát để thống nhất quyền và nghĩa vụ của người đại diện doanh nghiệp.
Tại Điều 61, đại biểu Nguyễn Danh Tú lo ngại quy định Hội nghị chủ nợ có thể quyết định chuyển nhượng đồng bộ tài sản khi nghị quyết chỉ cần sự đồng ý của 65% chủ nợ không có bảo đảm. Điều này có thể khiến tài sản bảo đảm bị chuyển nhượng dù chủ nợ có bảo đảm không đồng ý.
Đại biểu đề nghị chỉnh lý theo hướng mọi quyết định liên quan đến tài sản bảo đảm phải có sự đồng thuận của chủ nợ có bảo đảm.
Đại biểu Nguyễn Tâm Hùng (Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM) cho rằng hiện thứ tự ưu tiên của khoản nợ phát sinh nhằm mục đích phục hồi giữa hai thủ tục phục hồi và phá sản chưa thống nhất.
Để khuyến khích dòng vốn mới “bơm” vào doanh nghiệp đang phục hồi, đại biểu đề nghị cân nhắc xem xét nâng thứ tự ưu tiên của khoản nợ này lên ngay sau chi phí phá sản, tương tự nợ lương và bảo hiểm. Việc này sẽ giảm rủi ro cho chủ nợ mới và tăng khả năng thành công của thủ tục phục hồi.
Giải trình làm rõ thêm ý kiến đại biểu nêu, đồng chí Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Quảng cho biết dự án Luật Phá sản (sửa đổi) nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định còn vướng mắc, bất cập trong thực tiễn; tháo gỡ những điểm nghẽn trong giải quyết vụ việc phá sản.
Đồng thời hướng tới xây dựng, tạo hành lang pháp lý thông qua các thủ tục tố tụng, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh; tuyên bố phá sản và tuyên bố kết thúc kịp thời những doanh nghiệp, hợp tác xã không còn khả năng phục hồi.
Về tiêu chí “mất khả năng thanh toán”, cơ quan soạn thảo đề xuất giữ nguyên như dự thảo vì Nnhiều quốc gia đã áp dụng thời hạn 6 tháng.
Về dự thảo Luật Phát triển đô thị, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định đề nghị Bộ Tư pháp và Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tiếp tục phối hợp chặt chẽ, bảo đảm các quy định của Luật có tính khái quát, ổn định và áp dụng lâu dài…
Dự thảo Nghị quyết về xử lý vi phạm pháp luật liên quan kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được chỉnh lý theo hướng giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đồng thời, tạo cơ chế xử lý phù hợp đối với trường hợp có sai sót, rủi ro nhưng không vụ lợi, vì lợi ích chung.
Nghị quyết 21-NQ/TW chỉ rõ nhiều cơ chế về giá đất, thu hồi đất, bồi thường và chuyển mục đích sử dụng đất vẫn còn bất cập. Việc làm rõ từng nhóm điểm nghẽn cùng định hướng xử lý tại Nghị quyết là cơ sở quan trọng để sửa đổi Luật Đất đai bảo đảm khả thi và đồng bộ.
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 9 đến 14/8/2026 không chỉ ghi nhận hàng loạt thỏa thuận hợp tác mà còn phản ánh tư duy chủ động mở rộng không gian phát triển chiến lược cho Việt Nam. Trong bối cảnh quốc tế biến động hiện nay, chuyến thăm trở thành một lát cắt quan trọng để nhìn nhận cách Việt Nam triển khai đối ngoại phục vụ phát triển trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số và từng bước trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, việc nâng cao năng suất không còn là câu chuyện riêng của ngành khoa học và công nghệ, mà là một trong những nhiệm vụ trung tâm của cả hệ thống trong giai đoạn 2026–2030...
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Lợi thế năng lượng trong thế kỷ XXI không chỉ đến từ việc sở hữu tài nguyên, mà từ khả năng biến chính sách thành dự án, biến dự án thành năng lượng và biến năng lượng thành tăng trưởng.