Trao đổi tại Đối thoại “Phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp tại Việt Nam” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức mới đây, GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nhận định về chiến lược kinh tế không gian hay kinh tế tầm thấp, theo đó không chỉ có chiến lược kinh tế mà phải là chiến lược phát triển tổng thể, gồm hai cấu phần.
Một là chiến lược phát triển công nghệ. Cụ thể, Việt Nam phải xác định lựa chọn công nghệ gì, tham gia vào khâu nào, đứng ở đâu trong chuỗi công nghệ và đảm nhận phần nào trong thiết bị của lĩnh vực không gian vũ trụ và không gian tầm thấp.
Theo ông, Việt Nam không nên “đặt chân” vào sản xuất tất cả các chi tiết, tuy nhiên phần “linh hồn” của sản phẩm, như phần mềm, hệ thống điều khiển và trí tuệ, thì Việt Nam có khả năng làm chủ. “Vì vậy, chiến lược công nghệ phải xác định rõ chúng ta đứng ở đâu, làm gì và tập trung vào hướng nào. Đây là cấu phần quan trọng đầu tiên”, GS.TS. Hoàng Văn Cường nhấn mạnh.
Thứ hai là chiến lược về kinh tế. Khi đã sản xuất được sản phẩm thì sản phẩm đó được sử dụng vào đâu, có thị trường hay không, những doanh nghiệp nào được tham gia lĩnh vực này, cạnh tranh như thế nào và có những nguồn lực nào hỗ trợ phát triển. Chiến lược kinh tế phải hỗ trợ để chiến lược công nghệ trở thành hiện thực.
Chính vì thế, chiến lược phát triển lĩnh vực này phải bao hàm cả hai góc độ: công nghệ và kinh tế, không thể chỉ tập trung vào kinh tế, cũng không thể đơn độc phát triển công nghệ.
Hiện nay, nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc đã ban hành các chiến lược quốc gia, xây dựng cơ chế ưu đãi đặc thù nhằm thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp hàng không vũ trụ và kinh tế tầm thấp, coi đây là lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược cả về kinh tế, khoa học - công nghệ và quốc phòng - an ninh.
Ông Cường dẫn chứng, năm 2024, Trung Quốc xác định kinh tế tầm thấp là một động lực tăng trưởng mới. Đến nay, Trung Quốc đã thành lập cơ quan chuyên trách về phát triển kinh tế tầm thấp, cho thấy tốc độ xúc tiến rất nhanh. Hay tại Anh, quốc gia này đã có chiến lược phát triển không gian vũ trụ và đang tiếp tục tăng mạnh đầu tư, chính sách cho lĩnh vực này. Điều đó cho thấy sự thay đổi trong tư duy chiến lược nhằm tạo ra một không gian phát triển mới.
Thế giới hiện không còn coi kinh tế không gian vũ trụ hay kinh tế tầm thấp là những lĩnh vực mang tính thử nghiệm. Các lĩnh vực này đang chuyển sang giai đoạn phát triển thực tế và trở thành những ngành kinh tế mới. Khi đã bước vào giai đoạn phát triển thực thì cần phải có chiến lược.
Đại tá, PGS.TS. Nguyễn Huy Hoàng, Học viện Kỹ thuật Quân sự, cho rằng Việt Nam đã có Luật Phòng không nhân dân, các Nghị định và Thông tư cho tàu bay không người lái và phương tiện bay khác, nhưng vẫn cần một chiến lược quốc gia tổng thể dành riêng cho Kinh tế tầm thấp. Đặc biệt, theo ông Hoàng, việc thiếu vắng một cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các mô hình dịch vụ mới có ứng dụng phương tiện bay không người lái đang khiến doanh nghiệp gặp khó trong việc chứng minh hiệu quả, thu hút dòng vốn đầu tư và đưa sản phẩm ra thị trường.
Kỳ vọng Việt Nam sẽ sớm xây dựng được một chiến lược tổng thể, từ phát triển công nghệ, phát triển thị trường đến ứng dụng trong các ngành, lĩnh vực, qua đó tạo nền tảng cho kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp phát triển trong thời gian tới
Theo ông Nguyễn Huy Hoàng, kinh tế tầm thấp đã trở thành một thực thể kinh tế hiện hữu đang được nhiều tỉnh, thành phố quan tâm xây dựng thành đề án thực hiện. Để có được cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho nền kinh tế tầm thấp, Việt Nam cần sớm ban hành một hành lang pháp lý cởi mở cho kinh tế tầm thấp, triển khai ngay các khu vực bay thử nghiệm và thiết lập hạ tầng quản lý không lưu quốc gia (UTM) hiện đại dựa trên mạng 5G và tiến tới 6G.
Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế số và Xã hội số, Bộ Khoa học và Công nghệ, ông Nguyễn Văn Thuật, cũng nhìn nhận trong lĩnh vực kinh tế tầm thấp – điểm nghẽn lớn nhất là chưa hình thành được một cái kiến trúc quản trị thống nhất, do lĩnh vực này rất mới, đồng thời liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau như quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ, hàng không, tần số vô tuyến điện.
Vì thế, theo ông Thuật, nếu mà mỗi một cơ quan quản lý một khâu mà doanh nghiệp phải đi kết nối những khâu đó thì chi phí tuân thủ của doanh nghiệp sẽ rất lớn, như vậy sẽ khó để hình thành thị trường có quy mô.
GS.TS. Hoàng Văn Cường cho rằng Việt Nam cần có chiến lược về không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp ngay từ thời điểm này, nếu không sẽ có nguy cơ chậm chân. Chiến lược này gồm hai cấu phần: Một là chiến lược công nghệ, xác định chúng ta làm gì, tham gia vào đâu và đi theo hướng nào. Hai là, trên cơ sở đó, xây dựng chiến lược kinh tế để hình thành thị trường và thúc đẩy phát triển.
Cũng theo ông Cường, Việt Nam dù đã có những đã có những chính sách và định hướng nằm ở từng mảnh ghép khác nhau đối với lĩnh vực trên, như năm 2021, chúng ta có Quyết định 169 về Chiến lược phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ vũ trụ đến năm 2030. Đây là một định hướng quan trọng nhưng chưa phải là một chiến lược tổng thể. Đối đối với UAV, sản phẩm này đã được đưa vào danh mục 35 sản phẩm công nghệ chiến lược. Đây cũng mới là một chính sách riêng đối với một nhóm sản phẩm, chưa hình thành thành chiến lược phát triển toàn ngành.
Hay Việt Nam cũng đã có các mô hình sandbox tại một số địa phương, nhưng vẫn còn rời rạc, chưa trở thành một tổng thể. Nếu xây dựng một chiến lược thực sự thì phải trả lời được câu hỏi phát triển toàn bộ ngành, lĩnh vực này như thế nào và hướng đi trong dài hạn ra sao.
“Như vậy, Việt Nam đã có những mảnh ghép ban đầu, nhưng các mảnh ghép vẫn còn phân tán. Tuy vậy, một chiến lược tổng thể cho không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp thì Việt Nam vẫn chưa có”, ông Cường nói và kỳ vọng Việt Nam sẽ sớm xây dựng được một chiến lược tổng thể, từ phát triển công nghệ, phát triển thị trường đến ứng dụng trong các ngành, lĩnh vực, qua đó tạo nền tảng cho kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp phát triển trong thời gian tới.




Các đô thị dù đầu tư hệ thống cảm biến, trung tâm điều hành và nền tảng dữ liệu, nhưng khả năng phát hiện vấn đề chưa song hành cùng năng lực xử lý...
Từ đầu tư nhà màng sản xuất giống chanh dây đến áp dụng kỹ thuật chăm sóc sầu riêng, nông dân xã Chư Sê, tỉnh Gia Lai đang từng bước đưa khoa học công nghệ vào sản xuất, góp phần nâng cao chất lượng nông sản và hiệu quả kinh tế.
Thực tế ảo (VR), mô hình 3D và trí tuệ nhân tạo (AI) được đưa vào đào tạo tại Trường Đại học Điện lực, mở ra phương thức học tập trực quan, giúp sinh viên tiếp cận cấu tạo, nguyên lý vận hành của các thiết bị năng lượng và làm quen với những tình huống kỹ thuật…
Thành phố Huế vừa đưa vào khai thác 3 nền tảng số gồm Hiến kế, Hỗ trợ doanh nghiệp và Bản đồ số dự án thu hút đầu tư, nhằm tăng cường tương tác với người dân, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và tạo thuận lợi cho hoạt động xúc tiến đầu tư.
Khi hạ tầng viễn thông dần được phủ rộng, người dân miền núi có thêm cơ hội để tiếp cận tri thức, nâng cao đời sống và mở rộng sinh kế…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và CHDCND Lào, cho rằng cần xây dựng chính sách hướng tới nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư, giúp giảm chi phí vay không chỉ cho Nhà nước mà cả những doanh nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng từ xếp hạng tín nhiệm quốc gia.