
Theo dự thảo đề án sản xuất trồng trọt phát thải thấp trong giai đoạn 2025– 2030 đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng, mục tiêu đến năm 2030, giảm 30% tổng lượng phát thải khí CH4 và giảm ít nhất 10% tổng lượng phát thải khí nhà kính từ lĩnh vực trồng trọt so với năm cơ sở 2020, thông qua áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp với từng vùng sinh thái và nhóm cây trồng.
Đến năm 2030, diện tích áp dụng các biện pháp canh tác trồng trọt giảm phát thải trên cả nước đạt tối thiểu 2,5 triệu ha, ưu tiên tại các vùng sản xuất hàng hóa tập trung.
Cùng với đó hình thành cơ sở dữ liệu phát thải khí nhà kính trong trồng trọt theo cây trồng, vùng sinh thái và biện pháp kỹ thuật, góp phần hình thành thị trường carbon.
Xây dựng hệ thống tài liệu truyền thông, phổ biến kiến thức, thúc đẩy chuyển đổi hành vi sản xuất của nông dân theo hướng phát thải thấp. Tổ chức đào tạo, tập huấn về kỹ thuật, chính sách và công cụ đo phát thải cho cán bộ kỹ thuật, khuyến nông và nông dân trên toàn quốc.
Hiện nay, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đang tham khảo các ý kiến đóng góp liên quan đến đối tượng cây trồng áp dụng và lộ trình triển khai đề án.
Mới đây, tại buổi làm việc về việc xây dựng đề án này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh sản xuất trồng trọt giảm phát thải nằm trong chủ trương chung của quốc gia về mục tiêu giảm phát thải ròng về 0 năm 2050. Tuy nhiên, lĩnh vực này chỉ mới dừng lại ở một số dự án, chương trình nhỏ lẻ, chưa có tính căn cơ, bài bản.
Do đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng cần xây dựng một Đề án bài bản để có thể triển khai từ Bộ xuống các địa phương một cách thông suốt.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sản xuất trồng trọt giảm phát thải cần hướng tới mục tiêu phục vụ các nghĩa vụ đối với NDC (đóng góp do quốc gia tự quyết định), thay đổi tập quán canh tác theo hướng giảm sử dụng vật tư đầu vào, bền vững và thân thiện với môi trường, xây dựng thương hiệu nông sản phát thải thấp để lan tỏa trách nhiệm của ngành trồng trọt với môi trường, với thế hệ mai sau.
Tuy nhiên, một trong những vướng mắc hiện nay về giảm phát thải trong trồng trọt là chưa có khuôn khổ pháp lý, chưa có công cụ đo đếm. Bên cạnh đó, nhận thức của đa số người dân, doanh nghiệp, cán bộ địa phương về sản xuất trồng trọt giảm phát thải vẫn còn hạn chế.
Hiện nay, Việt Nam mới chỉ có chương trình 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở đồng bằng sông Cửu Long được phê duyệt và triển khai. Tuy nhiên, trên toàn quốc có đến hơn 7 triệu ha lúa và hơn 1 triệu ha cây ăn quả.
Tại hội nghị “Sơ kết 1 năm triển khai Đề án Phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” diễn ra hồi tháng 4/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết 12 tỉnh, thành phố trong vùng đề án đều đăng ký tham gia với tổng diện tích là 1.015 nghìn ha, đã triển khai 7 mô hình điểm tại 5 tỉnh Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Đồng Tháp và Cần Thơ. Kết quả bước đầu cho thấy, mô hình canh tác lúa chất lượng cao, giảm phát thải mang lại những lợi ích rõ rệt cả về kinh tế lẫn môi trường.
Các mô hình giúp giảm chi phí sản xuất từ 8,2% đến 24,2% nhờ giảm 30- 50% lượng giống, tiết kiệm 30-70 kg phân bón/ha, giảm 1- 4 lần phun thuốc bảo vệ thực vật và cắt giảm 30- 40% lượng nước tưới. Đồng thời, năng suất tăng 2,4- 7,0%, giúp nâng cao thu nhập của nông dân thêm 12- 50%, tương đương lợi nhuận tăng từ 4- 7,6 triệu đồng/ha so với canh tác truyền thống. Quan trọng hơn, mô hình đã góp phần giảm phát thải khí nhà kính, với mức giảm trung bình 2,0- 12,0 tấn CO₂ tương đương/ha.
Theo báo cáo của một tổ chức quốc tế, nông nghiệp là ngành phát thải khí nhà kính lớn thứ hai ở Việt Nam, chiếm khoảng 19% tổng lượng phát thải vào năm 2020. Các hoạt động sản xuất lúa gạo và chăn nuôi đóng góp phần lớn vào lượng phát thải này, với 48% từ lúa gạo và 15,3% từ chăn nuôi. Đặc biệt, hơn 70% lượng phát thải của ngành nông nghiệp là các khí metan (CH4) và nitơ oxit (N2O)- có tác động lớn hơn đến sự nóng lên toàn cầu so với khí CO2.




Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đặng Hồng Hạnh, Đồng sáng lập kiêm Giám đốc Điều hành VNEEC, cho rằng bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp lý, Việt Nam cần sớm làm rõ quyền sở hữu tín chỉ carbon, xây dựng hệ thống đăng ký có khả năng kết nối với các thị trường quốc tế, đồng thời tăng cường năng lực cho doanh nghiệp và các bên tham gia. Đây là những điều kiện quan trọng để hình thành một thị trường carbon minh bạch, hiệu quả, góp phần thu hút nguồn lực cho chuyển đổi xanh và thực hiện các cam kết giảm phát thải của Việt Nam.
Từ một cộng đồng sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt, Tanmen ở tỉnh Hải Nam đang mở rộng sinh kế bằng du lịch biển, câu cá giải trí, trải nghiệm văn hóa và bảo tồn di sản hàng hải. Câu chuyện của Tanmen cho thấy một hướng đi đáng chú ý của kinh tế biển xanh: không chỉ khai thác tài nguyên biển mà còn gia tăng giá trị từ văn hóa, tri thức và đời sống của cộng đồng ven biển…
Việt Nam đang có tiềm năng lớn về trữ lượng dầu mỏ. Thậm chí, với những nguồn mỏ dầu khí đang cạn kiệt còn mở ra cơ hội lưu trữ carbon. Tận dụng tốt các nguồn mỏ này sẽ tạo ra CCS, Carbon Capture & Storage – một thị trường mới đầy tiềm năng, quy mô hàng chục tỷ USD.
Đơn giản hóa khả năng tiếp cận các nguồn tài chính quốc tế về khí hậu và đất đai, phát triển các công cụ giảm thiểu rủi ro để khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư; xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế minh bạch, có tính toàn vẹn cao đối với thị trường carbon và dịch vụ hệ sinh thái, tạo nền tảng để huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực...
Rosatom đang chuyển từ cách xây dựng từng nhà máy điện hạt nhân riêng lẻ sang mô hình tiêu chuẩn hóa, sản xuất và lắp ráp các tổ máy theo dây chuyền. Nga kỳ vọng cách tiếp cận này sẽ rút ngắn thời gian xây dựng, giảm chi phí và tạo lợi thế mới cho Rosatom trong cuộc đua giành các dự án điện hạt nhân trên toàn cầu…
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Việt Nam đang có tiềm năng lớn về trữ lượng dầu mỏ. Thậm chí, với những nguồn mỏ dầu khí đang cạn kiệt còn mở ra cơ hội lưu trữ carbon. Tận dụng tốt các nguồn mỏ này sẽ tạo ra CCS, Carbon Capture & Storage – một thị trường mới đầy tiềm năng, quy mô hàng chục tỷ USD.