Trong giai đoạn thí điểm từ nay tới cuối năm 2025, Agribank là ngân hàng chủ lực cho vay Đề án 1 triệu hecta lúa. Giai đoạn mở rộng từ khi kết thúc thí điểm tới năm 2030 sẽ được triển khai tại các tổ chức tín dụng.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết đã phối hợp các Bộ, ngành, địa phương liên quan xây dựng Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng đồng bằng sông Cửu Long theo Quyết định 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi là Chương trình).
Theo đó, ngày 11/10/2024, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gửi các văn bản số 8363/NHNN-TD đến Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long; văn bản số 8364/NHNN-TD gửi các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long hướng dẫn một số nội dung để triển khai thực hiện Chương trình.
Trong giai đoạn thí điểm từ nay tới cuối năm 2025, Agribank là ngân hàng chủ lực cho vay Đề án 1 triệu hecta lúa. Giai đoạn mở rộng từ khi kết thúc thí điểm tới năm 2030 sẽ được triển khai tại các tổ chức tín dụng.
Chương trình cho vay theo 2 giai đoạn (căn cứ theo 2 giai đoạn triển khai Đề án theo Quyết định 1490), trong đó giai đoạn thí điểm từ nay tới cuối năm 2025 do Agribank là ngân hàng chủ lực cho vay và giai đoạn mở rộng từ khi kết thúc thí điểm tới năm 2030 tại các tổ chức tín dụng.
Về nguồn lực và nguyên tắc cho vay: tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng nguồn vốn tự huy động của tổ chức tín dụng. Việc cho vay được thực hiện theo cơ chế thương mại với các điều kiện cho vay theo quy định hiện hành của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
Thời hạn và mục đích cho vay: đáp ứng nhu cầu vốn ngắn, trung, dài hạn của tất cả các khâu (sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ) trong liên kết lúa gạo.
Về lãi suất cho vay: tổ chức chủ động cân đối nguồn vốn, tiết giảm chi phí để xem xét áp dụng lãi suất cho vay thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay của kỳ hạn tương ứng đang áp dụng đối với khách hàng cùng kỳ hạn/cùng nhóm.
Hiện nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND các tỉnh, thành phố chưa công bố định mức chi phí thực tế thực hiện khâu sản xuất lúa gạo trong liên kết lúa gạo và xác định, công bố các vùng chuyên canh, các liên kết và chủ thể tham gia liên kết theo Quyết định 1490 nên các tổ chức tín dụng chưa có cơ sở đánh giá về nhu cầu vốn phục vụ các chuỗi liên kết theo Đề án. Tuy nhiên, về nguyên tắc, khả năng giải ngân phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn thực tế của các chủ thể tham gia liên kết.
Ngoài ưu đãi về mức giảm lãi suất tối thiểu 1% nêu trên, các chủ thể tham gia liên kết lúa gạo còn được hưởng nhiều ưu đãi khác theo quy định tại Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015, Nghị định 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn như sau.
Thứ nhất, mức cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa là từ 100 triệu đồng đến 3 tỷ đồng (tùy đối tượng khách hàng cá nhân, tổ hợp tác, hợp tác xã).
Thứ hai, chính sách cho vay khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với mức cho vay không có tài sản bảo đảm lên đến 70%-80% giá trị phương án, dự án; đồng thời, quy định về quản lý dòng tiền trong cho vay liên kết nông nghiệp nhằm hạn chế rủi ro, khuyến khích tổ chức tín dụng đẩy mạnh cho vay.
Thứ ba, có cơ chế xử lý nợ đặc thù như: cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ đối với khách hàng gặp khó khăn do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng; cơ chế khoanh nợ đối với khách hàng gặp rủi ro do thiên tai, dịch bệnh trên phạm vi rộng hoặc khách hàng là tổ chức đầu mối liên kết, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng.
Thứ tư, chính sách khuyến khích người dân mua bảo hiểm trong nông nghiệp thông qua giảm lãi suất cho vay với mức tối thiểu 0,2%/năm so với lãi suất của các khoản cho vay cùng loại và có thời hạn tương ứng.
Ngân hàng Nhà nước cho biết đến nay ngành ngân hàng đã ban hành đầy đủ các cơ chế, chính sách và có văn bản hướng dẫn triển khai cho vay theo Chương trình 1490 để tạo thuận lợi cho các chủ thể tham gia liên kết trong vay vốn tổ chức tín dụng.
Ngân hàng Nhà nước cam kết trong thời gian tới ngành tiếp tục đồng hành và tích cực phối hợp với các cơ quan liên quan đẩy mạnh triển khai chương trình cho vay nói riêng và thực hiện Đề án theo Quyết định 1490 nói chung.




Với 2 phiên giảm liên tiếp, giá mua, bán vàng miếng SJC tại các hệ thống lớn giảm phổ biến 8,4 triệu đồng/lượng và 6,4 triệu đồng/lượng. Cá biệt tại Ngọc Thẩm, mức giảm trên lên tới 13 triệu đồng/lượng với chiều mua và 10 triệu đồng/lượng với chiều bán…
Tỷ giá USD/VND chịu tác động bất lợi khi nhập siêu nới rộng và giá dầu Brent leo lên 96,2 USD/thùng, song thanh khoản hệ thống ngân hàng vẫn ở trạng thái thuận lợi có thể góp phần hạn chế biến động mạnh trên thị trường ngoại hối...
Theo quy hoạch, Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh sẽ cần huy động khoảng 214-241 tỷ USD để đầu tư hơn 2.000 km đường sắt đô thị (metro) trong những thập kỷ tới. Tuy nhiên, thách thức không chỉ ở việc thu xếp đủ nguồn vốn, mà còn ở thiết kế một cơ chế tài chính đủ bền vững để tiếp tục thu hút đầu tư, bảo đảm vận hành hiệu quả và duy trì an toàn tài khóa trong dài hạn...
Trong phiên giao dịch ngày 22/7, tỷ giá đồng yên Nhật Bản so với đồng USD giảm xuống mức đáy mới của 40 năm qua. Sức ép mất giá đối với yên tăng thêm khi chiến lược kinh tế mới của Thủ tướng Sanae Takaichi khiến nhà đầu tư lo ngại về sức khỏe nền tài khóa của Nhật Bản...
Trong bối cảnh thanh khoản có xu hướng thắt chặt và nhu cầu vốn trung, dài hạn gia tăng, khả năng tiếp cận thị trường tài chính toàn cầu đang trở thành lợi thế đáng kể, giúp VPBank củng cố nền tảng tăng trưởng và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.