Trong văn bản khẩn gửi Phó Thủ tướng
Lê Thành Long và các bộ ngành liên quan, Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ
Logistics Việt Nam (VLA) cảnh báo về tình trạng tắc nghẽn nghiêm trọng do sự
bất cập trong triển khai Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP
về quản lý an toàn thực phẩm.
HAI
TÌNH HUỐNG KHÔNG LỐI THOÁT
Theo ghi nhận của VLA, tính đến hết
ngày 2/2/2026, hàng hóa nguyên vật liệu thực phẩm để sản xuất sản phẩm tiêu
dùng trong nước của các doanh nghiệp trong nhiều ngành như nước giải khát, rượu
bia, bánh kẹo đều đang đình trệ, không thể khai báo hải quan từ ngày 29/1/2026.
Nguyên nhân chính xuất phát từ sự
thay đổi căn bản trong quy định. Theo Khoản 2, Điều 4 Nghị định 15/2018/NĐ-CP
trước đây: "Sản phẩm, nguyên liệu sản xuất, nhập khẩu chỉ dùng để sản
xuất, gia công hàng xuất khẩu hoặc phục vụ cho việc sản xuất nội bộ của tổ
chức, cá nhân không tiêu thụ tại thị trường trong nước được miễn thực hiện thủ
tục tự công bố sản phẩm."
Tuy nhiên, Nghị định 46/2026/NĐ-CP
đã bỏ quy định miễn kiểm tra an toàn thực phẩm đối với nhóm nguyên liệu này, tạo ra bế tắc
pháp lý nghiêm trọng.
VLA chỉ ra hai tình huống doanh
nghiệp đang phải đối mặt mà không có cách giải quyết.
Tình huống thứ nhất: Đối với nhóm
nguyên liệu sản xuất nội bộ thuộc nhóm hàng công bố hợp quy rơi vào tình trạng
không tồn tại "đầu vào pháp lý" ngay lập tức để cơ quan kiểm tra có
căn cứ tiếp nhận và thẩm định hồ sơ vì không thể thực hiện công bố hợp quy ngay.
Tình huống thứ hai: Đối với nhóm
nguyên liệu được miễn công bố tiêu chuẩn áp dụng, việc sử dụng "bản tiêu
chuẩn sản phẩm" vẫn chưa được sự thống nhất tiếp nhận từ cơ quan quản lý
nhà nước, vì các cơ quan kiểm tra đang khuyến nghị doanh nghiệp vẫn phải thực
hiện "công bố hợp quy".
Hệ quả là doanh nghiệp nhập khẩu
nguyên liệu phục vụ sản xuất nội bộ gặp khó khăn trong việc tuân thủ đầy đủ quy
định pháp luật hiện hành, không xuất phát từ ý thức tuân thủ hay năng lực của
doanh nghiệp mà do thiếu hành lang pháp lý rõ ràng.
Thực trạng nghiêm trọng hơn là hệ
thống kiểm nghiệm không đủ năng lực đáp ứng. Từ ngày 29/1/2026 đến 2/2/2026,
các cơ quan chính thực hiện kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm như Quatest 3, Viện Kiểm
nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm, Vinacontrol đã đồng loạt thông báo ngừng tiếp nhận hồ sơ kiểm
tra.
VLA lý giải: "Do đối tượng buộc
phải thực hiện kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm tăng vọt theo Nghị định 46 hàng nhiều lần -
trước đây được miễn, nay phải thực hiện kiểm tra, khối lượng công việc tăng
với cả yêu cầu nhân lực lấy mẫu kiểm nghiệm, phòng thí nghiệm... cộng thêm các
quy trình kiểm nghiệm theo Nghị định 46 là mới, các cơ quan kiểm nghiệm chưa chuẩn bị,
việc tắc nghẽn là điều không tránh khỏi."
Một vướng mắc lớn khác nằm ở các khung
thời gian quy định. Ngay cả khi được tháo gỡ, doanh nghiệp nhập khẩu nguyên
liệu sản xuất thực phẩm tiêu dùng trong nước, nếu hàng hóa thuộc diện có quy
chuẩn Việt Nam, sẽ phải thực hiện công bố hợp quy với khung thời gian 10 ngày
kể từ khi nộp hồ sơ theo Điều 5, trước khi được thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm thêm 3-11 ngày làm việc.
Như vậy, tổng cộng mất khoảng tối
thiểu 25 ngày cho các thủ tục này ngay trước Tết Nguyên đán. Sau đó hàng hóa
mới được đưa vào sản xuất, gây hậu quả rất lớn cho chuỗi cung ứng.
VLA đánh giá: "Các khung thời
gian mô tả tại Điều 25 về trình tự kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm là hoàn toàn không
phù hợp với đặc thù hàng thực phẩm. Ngay cả khung thời gian trong vòng 3 ngày
làm việc của phương thức kiểm tra giảm cũng gây tiêu tốn nguồn lực lớn của xã
hội, cũng như tạo áp lực lên các kho bãi của các cửa khẩu".
Còn các khung thời gian 7+2 ngày,
9+2 ngày làm việc cho phương thức kiểm tra thông thường và kiểm tra chặt được
VLA nhận định là "thách thức không thể vượt qua với toàn hệ thống".
NGUY
CƠ KẸT CẢNG DIỆN RỘNG, ÁP LỰC CẢ TRUNG VÀ DÀI HẠN
Công văn của VLA chỉ rõ: vấn đề trở nên phức tạp hơn với
nhóm hàng thực phẩm có nguồn gốc động vật, thực vật thuộc diện kiểm dịch. Theo
Khoản 6, Điều 25 Nghị định 46: "Đối với mặt hàng nhập khẩu vừa thuộc đối
tượng phải thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm, vừa thuộc đối tượng phải thực
hiện kiểm dịch theo quy định của pháp luật, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
được Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao nhiệm vụ thực hiện đồng thời kiểm tra
nhà nước về an toàn thực phẩm và kiểm dịch."
Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện chưa
có quy định hoặc hướng dẫn thống nhất về việc sử dụng mẫu đã lấy cho kiểm dịch
thú y hoặc kiểm dịch thực vật làm căn cứ cho kiểm tra an toàn thực phẩm, hay phải thực hiện
lấy mẫu riêng biệt cho từng mục đích quản lý vì các chỉ tiêu xét nghiệm hoàn
toàn khác biệt.
Điều này dẫn đến nguy cơ lấy mẫu
trùng lặp, gia tăng chi phí và kéo dài thời gian thông quan. Đáng chú ý, cơ chế
quản lý rủi ro giữa hai hệ thống chưa được đồng bộ. Trong khi kiểm dịch thú y
áp dụng tần suất lấy mẫu theo nguyên tắc quản lý rủi ro (5 lô lấy mẫu 1 lô đối
với nhóm nguy cơ thấp), thì kiểm tra an toàn thực phẩm lại áp dụng cơ chế lấy mẫu 3 lô liên
tiếp theo phương thức kiểm tra thông thường.
Do không có cơ chế chuyển tiếp cho
phương pháp kiểm tra an toàn thực phẩm, toàn bộ chuỗi nhập khẩu và cung ứng bị tạm dừng vì
tất cả doanh nghiệp, tất cả mặt hàng đều yêu cầu phải kiểm tra, lấy mẫu thực
hiện theo phương thức kiểm tra thông thường tại cùng thời điểm.
VLA cảnh báo: "Trong trường hợp
không được áp dụng cơ chế tạm giải tỏa hoặc đưa hàng về bảo quản, hàng hóa buộc
phải lưu tại cảng trong thời gian chờ kết quả kiểm nghiệm. Trong giai đoạn cao
điểm nhập khẩu như thời gian cận Tết, nguy cơ kẹt cảng diện rộng là hoàn toàn
có thể xảy ra, không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp nhập khẩu mà còn tác động
dây chuyền đến hệ thống cảng và toàn bộ hệ thống logistics quốc gia."
Ngay cả khi được áp dụng cơ chế giải
tỏa, không phải kho nào cũng đã đăng ký kho mang hàng về bảo quản và đạt tiêu
chuẩn an toàn thực phẩm lẫn tiêu chuẩn vệ sinh thú y tại thời điểm này.
Về trung hạn, VLA dự báo sẽ có hàng
nghìn doanh nghiệp, hàng trăm nghìn sản phẩm phải chuyển đổi nghĩa vụ tự công
bố/công bố sản phẩm theo hình thức mới trong cùng thời gian, nhưng nguồn lực tổ
chức chứng nhận, phòng thử nghiệm và nhân sự chuyên môn đều hữu hạn.
"Thời gian thực tế để doanh
nghiệp triển khai hiệu quả đối với nhóm tự công bố không nằm trong con số 12
tháng trên giấy tờ mà thực tế chỉ còn 8-10 tháng, sau khi trừ thời gian chờ
hướng dẫn và hoàn thiện năng lực hệ thống của tất cả các bên phụ trách liên
quan", VLA nhấn mạnh.
Trong cùng giai đoạn chuyển tiếp,
doanh nghiệp phải đồng thời chuyển đổi hồ sơ tự công bố/công bố hiện hữu, tiếp
tục làm hồ sơ cho sản phẩm mới phát sinh, mở rộng danh mục, thay đổi nhà cung
cấp, nhãn mác, công thức, quy cách. Việc tồn tại nhiều luồng thủ tục pháp lý
song song làm gia tăng đáng kể yêu cầu về nhân lực, quy trình và kiểm soát dữ
liệu nội bộ.
VLA cũng lưu ý: "Các chỉ tiêu
kiểm tra theo phương thức thông thường và phương thức chặt là tăng lên nhiều,
dẫn đến chi phí kiểm nghiệm chi trả của các doanh nghiệp sẽ phải tăng lớn tương
ứng".
Từ đó, VLA tổng kết bốn khó khăn và thách thức chính:
Thứ nhất: Khó khăn, ách tắc trong
việc áp dụng Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 là rất nghiêm trọng.
Thứ hai: Khó khăn chính không chỉ
nằm ở yêu cầu tuân thủ, mà nằm ở khả năng hấp thụ, đáp ứng của toàn bộ hệ thống
trong cùng một khung thời gian ngắn, hiệu lực áp dụng ngay.
Thứ ba: Việc thiếu cơ chế chuyển
tiếp phù hợp và hướng dẫn thống nhất đã tạo ra rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng
và hoạt động sản xuất.
Thứ tư: Các khó khăn trên cần được
xử lý, giải quyết ở cấp chính sách, không thể giải quyết bằng nỗ lực đơn lẻ của
doanh nghiệp.
Từ những thách thức trên, VLA đã đề nghị Chính phủ xem xét các vướng mắc và có những hướng dẫn thực thi kịp
thời.
Đồng thời, VLA kiến nghị xem xét
ngừng áp dụng Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP đến hết
ngày 31/3/2026 để đánh giá toàn diện sự phù hợp các quy định mới, góp phần hoàn
thiện cơ chế triển khai chính sách an toàn thực phẩm theo hướng khả thi, đồng bộ.
Theo VLA, việc tạm dừng này vừa nâng
cao hiệu quả quản lý nhà nước, vừa tạo điều kiện để cộng đồng doanh nghiệp đồng
hành cùng Chính phủ trong việc bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và ổn định nền
kinh tế.
Việc triển khai đồng thời các văn
bản này tạo nên một giai đoạn chuyển đổi pháp lý sâu rộng, nhấn mạnh trách
nhiệm quản lý về an toàn thực phẩm và chất lượng sản phẩm, chuẩn hóa các thủ tục công bố và
kiểm tra, đồng thời bảo đảm bảo vệ người tiêu dùng trước các sản phẩm có rủi ro
về an toàn và chất lượng. Tuy nhiên, sự thiếu đồng bộ trong triển khai đang đặt
ra câu hỏi lớn về cân bằng giữa mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng và duy trì hoạt
động bình thường của nền kinh tế.