
Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA) vừa có văn bản gửi Bộ Công Thương góp ý cho Bản dự thảo Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030 tầm nhìn đến năm 2050.
Đáng lưu ý trong văn bản này VSEA đề xuất giảm tối đa nhập khẩu than trong phát triển năng lượng quốc gia khi tiềm năng khai thác than trong nước không còn nhiều, phụ thuộc vào nhập khẩu ngày càng tăng trong tình trạng ngành than toàn cầu cũng đang thoái trào.
Quy hoạch cho rằng sau 2020 nước ta phải nhập khẩu năng lượng, chủ yếu phải nhập và mặc nhiên phải nhập. Tỷ lệ nhập khẩu tăng từ 49% năm 2020 lên 54% năm 2030 và 70% năm 2050. Tuy nhiên, VSEA cho rằng điều này là không hợp lý vì nhập khẩu than gặp nhiều trở ngại.
Một số quốc gia được xác định là nguồn nhập khẩu than của Việt Nam gồm: Úc, Indonesia, Nga, Nam Phi. Thị trường Úc và Indonesia đã phân chia thị phần cho Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ nắm giữ, rất khó cho Việt Nam chen chân vào. Đối với Nam Phi, không có chính sách rõ ràng, cơ sở hạ tầng cũng nghèo nàn. Với Nga, do hạn chế đường ray từ các bể than tới cảng làm hạn chế mở rộng xuất khẩu.
Trong khi đó, cơ sở hạ tầng nhập khẩu than của Việt Nam cũng kém. Hệ thống kho cảng nhập; cảng nước sâu, tàu biển không có nhiều. Năng lực tài chính của Việt Nam cũng còn yếu kém. Nếu tính mỗi tấn than giá 100 USD thì vào năm 2020 mỗi năm Việt Nam cần số tiền 4,6 tỷ USD, năm 2025 là 8,3 tỷ USD và năm 2030 là 15,7 tỷ USD. Để “mua mỏ” cũng cần vốn đầu tư khá lớn: đầu tư mỏ 30 triệu tấn/năm cần phải chi 2,45 tỉ USD và 8 tỉ USD đường sắt để vận chuyển. Nếu mua than trôi nổi trên thị trường thì sẽ bị giá đắt và lượng cung ứng thất thường và sẽ bị bắt chẹt về giá lúc khó khăn.
Với khối lượng nhập than lớn và di chuyển theo đường biển từ 2.000 km đến 5.000 km cũng phải đối mặt với nhiều nguy cơ như thiên tai, cướp biển và nhất là những xung đột trên biển trong khu vực. Năng lượng luôn được dùng làm một công cụ trong chiến tranh. Khủng hoảng dầu mỏ năm 1974 cho thẩy rõ điều này. Những tranh chấp tại eo biển Hormus của Iran và ở Biển Đông hiện nay cũng là ví dụ rõ ràng.
Ngay bây giờ đã có những báo động về ô nhiễm bụi, đặc biệt là ở các đô thị lớn, nhất là Hà Nội nhiều ngày nay chất lượng không khí liên tục ở mức có hại cho sức khỏe. Nhưng quy hoạch ở vùng Đồng bằng Sông Hồng vẫn còn rất nhiều nhà náy nhiệt điện than tiếp tục được đầu tư xây dựng.
"Thực tế này đặt ra yêu cầu cần định vị lại vị trí của ngành than trong tương lai từ đó đưa ra hướng đi đúng đắn nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động của ngành này", VSEA kiến nghị.
Cũng theo VSEA, cần khai thác tối đa nguồn năng lượng sơ cấp trong nước để hướng tới mục tiêu Việt Nam trở lại thành nước xuất khẩu năng lượng trong tương lai.
Về nguồn tiềm năng khí nội địa, cần bổ sung tiềm năng của hai mỏ Kèn Bầu và Khánh Hòa vào nguồn cung năng lượng sơ cấp. Đây là hai mỏ mới thăm dò được trong năm 2020 nhưng hiện chưa được đưa vào xem xét trong bản dự thảo quy hoạch.
Tiềm năng kỹ thuật của năng lượng tái tạo trong nước được xác định rất lớn, có thể mang lại lợi ích đa chiều về môi trường, kinh tế, xã hội, việc làm nhưng tỷ lệ sử dụng trong quy hoạch còn rất nhỏ. Năng lượng tái tạo ngoài phát điện nên được thúc đẩy ứng dụng vào các ngành khác như công nghiệp, giao thông, nông nghiệp, dân dụng. Riêng đối với năng lượng khí sinh học, cần xác định mục tiêu phát triển cụ thể cho từng giai đoạn để khai thác nguồn tiềm năng này.
Báo cáo Nghiên cứu Tác động của nhiệt điện than tới chất lượng không khí và sức khoẻ tại Việt Nam của VSEA chỉ ra rằng các nhà máy điện than đang vận hành gây ra khoảng 4.359 ca tử vong sớm vào năm 2017. Con số này sẽ tăng lên khoảng 28.136 vào năm 2030 theo kịch bản phát triển điện than của quy hoạch điện VII điều chỉnh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khu vực Đồng bằng Sông Hồng là khu vực chịu tác động lớn nhất. Đặc biệt trong số các tỉnh thành, Hà Nội là thành phố chịu tác động sức khỏe lớn nhất từ các nhà máy nhiệt điện than đang vận hành.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 45-2026 phát hành ngày 09/11/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy trân trọng giới thiệu bài viết của GS.TS.Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tiêu đề: "Thượng tôn Hiến pháp và Pháp luật – Động lực kiến tạo phát triển đất nước":
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu ngành than đẩy mạnh hiện đại hóa sản xuất, bảo đảm an toàn lao động, chăm lo đời sống công nhân và gắn khai thác tài nguyên với bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong muốn doanh nghiệp Nhật Bản mở rộng đầu tư, nghiên cứu và phát triển sản phẩm tại Việt Nam; cùng doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, gắn hợp tác công nghệ với nâng cao năng lực tự chủ và chất lượng nguồn nhân lực.
Nhận lời mời của Nhà nước Nhật Bản, ngày 8/11/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời Thủ đô Hà Nội lên đường thăm chính thức Nhật Bản từ ngày 8 – 11/11/2026.
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều con số kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký đạt mức cao nhất kể từ năm 2009 đến nay (54,85 tỷ USD), vốn FDI thực hiện cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (24,08 tỷ USD). Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, bán lẻ và du lịch, nền kinh tế Việt Nam đang chứng tỏ đà tăng trưởng vững chắc…
Lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký lập đỉnh cao nhất trong vòng 17 năm qua, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng. Tuy nhiên, diện tích gieo cấy lúa lại giảm tới hàng chục nghìn ha, bình quân vẫn còn tới 18,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thi trường. Đó là những điểm nhấn trong tổng quan bức tranh kinh tế Việt Nam 10 tháng qua.