Mặc dù tài chính bền vững đang là xu hướng không thể đảo ngược nhưng thực tế cho thấy một khoảng cách đáng kể giữa cam kết và hành động. Dữ liệu toàn cầu cho thấy tổng tài sản đầu tư bền vững đạt 35,3 nghìn tỷ USD, chiếm khoảng 10% tổng giá trị tài sản tài chính toàn cầu (360 nghìn tỷ USD). Tuy vậy, sự gia tăng tỷ lệ này đang được thúc đẩy mạnh mẽ bởi nhu cầu của nhà đầu tư và áp lực quy định.
Chia sẻ tại Tọa đàm về “Dịch vụ Dữ liệu ESG của bên thứ ba” do IFC phối hợp với Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) tổ chức ngày 21/10, ông Benson Shum, Giám đốc vận hành (COO) của Prestige and Fortune Fintech, cho biết sức ép ngày càng lớn từ các nhà đầu tư đang biến ESG từ mục tiêu tự nguyện trở thành tiêu chuẩn bắt buộc.
Khảo sát năm 2024 của Capital Group cho thấy tỷ lệ phân bổ ESG tổng thể của các nhà đầu tư dự kiến sẽ tiếp tục tăng trong 12 tháng tới, đặc biệt tại khu vực Châu Âu, Trung Đông và Châu Phi (tăng từ 52% lên 61%) và Châu Á – Thái Bình Dương (từ 53% lên 56%).
Song song đó, áp lực pháp lý từ các quy định nghiệm ngặt của Liên minh Châu Âu (EU) buộc các doanh nghiệp phải thích ứng. “Do vậy, việc trì hoãn xây dựng hạ tầng dữ liệu ESG ngay tại thời điểm này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng cạnh tranh kinh tế trong tương lai”, ông Benson Shum cảnh báo.
Phân tích ESG đã trở thành nội dung tiêu chuẩn trong quy trình đầu tư, đó là chuyển từ sàng lọc tiêu cực đơn giản sang tích hợp sâu và tập trung vào các yếu tố trọng yếu ảnh hưởng đến hiệu suất tài chính, đặc biệt là rủi ro khí hậu.
Tại các thị trường mới nổi như Việt Nam, việc tích hợp ESG vào hệ thống tài chính phải đối mặt với 5 thách thức lớn.
Thứ nhất, rào cản về chi phí và nguồn lực. ESG thường bị xem là một “trung tâm chi phí”, tức tiêu tốn tiền bạc nhưng không mang lại lợi ích tài chính trực tiếp. Ngay tại Trung Quốc, ông Benson Shum cho biết nhiều tổng giám đốc ban đầu coi việc làm dữ liệu ESG là tạo thêm chi phí.
Thứ hai, khoảng trống về kiến thức và nhận thức. Nhiều doanh nghiệp vẫn còn mơ hồ với các câu hỏi “ESG là gì?” hay “Làm thế nào để triển khai?”.
Ngoài ra, ba thách thức khác bao gồm khung pháp lý đang trong quá trình phát triển (thường tập trung vào chế tài hơn là ưu đãi), gánh nặng về dữ liệu và báo cáo (với nhiều yêu cầu khác nhau từ các bên), và tâm lý lo ngại về bất lợi cạnh tranh nếu là người đi trước.
Ông Daniel Hsiao, Giám đốc Phát triển Bền vững của CRIF Đài Loan, chỉ ra rằng vấn đề cốt lõi tại Việt Nam, nơi có trên 97% doanh nghiệp là nhỏ và vừa (SMEs), chính là khoảng trống về độ bao phủ dữ liệu. Các doanh nghiệp có quy mô vừa thiếu động lực, nguồn lực và năng lực kỹ thuật nội bộ để tuân thủ, đồng thời cảm thấy thuật ngữ ESG quá phức tạp.
Trước những thách thức này, ông Phạm Xuân Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, cho rằng cần có vai trò dẫn dắt của Chính phủ bởi các tổ chức tư nhân không đủ thẩm quyền để ra mệnh lệnh bắt buộc các tổ chức khác phải cung cấp dữ liệu.
Vì vậy, ông đề xuất một lộ trình kết hợp cả “cây gậy và củ cà rốt”, trong đó chế tài phải đi trước. Cụ thể, Chính phủ và Ngân hàng Trung ương cần quy định bắt buộc thực hiện ESG theo lộ trình cho hệ thống tài chính ngân hàng. Đi kèm với đó là các chính sách hỗ trợ về tài chính, thuế, và đặc biệt là ưu tiên các doanh nghiệp xanh trong đấu thầu của Chính phủ.
Mấu chốt để phá vỡ rào cản tâm lý về chi phí, theo ông Benson Shum, là làm rõ giá trị của ESG. Như tại Trung Quốc, các CEO chỉ bắt đầu cân nhắc khi ông giải thích rằng: “Cái này sẽ giúp các bạn huy động vốn, lấy được vốn từ nhà đầu tư như thế nào”.
Cùng quan điểm, ông Phạm Xuân Hòe đưa ra một ví dụ điển hình về một doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam xuất khẩu tinh dầu quế. Doanh nghiệp này đã “mất ròng rã hơn chục năm để làm ESG” và kết quả là, “đến bây giờ thì họ không vay vốn ngân hàng mà chỉ kêu gọi các nhà đầu tư rót vốn và nhiều nhà đầu tư mong muốn bỏ vốn nhưng doanh nghiệp không chấp nhận”.
“Thế giới đã tổng kết rằng, nếu như đầu tư vào các doanh nghiệp ESG thì mức sinh lời lợi nhuận ổn định hàng năm tốt hơn rất nhiều lần so với tất cả những cái doanh nghiệp chưa xếp hạng ESG”, ông Hòe khẳng định.
Từ góc độ của các định chế tài chính trong việc ra quyết định rót vốn đầu tư, ông Jinchan Lai, Chuyên gia trưởng từ IFC cho rằng nhu cầu về dữ liệu ESG là rất cụ thể và thường liên quan tới các nội dung như thẩm định cho vay (phân loại khoản vay dựa trên tiêu chí rủi ro ESG), các báo cáo phải công bố và cam kết net zero (ngân hàng kiểm tra, đo lường các dữ liệu về ESG).
Để đáp ứng những nhu cầu này, các định chế tài chính thường cần dữ liệu từ bên thứ ba. Tuy nhiên, ông Daniel Hsiao chỉ ra rằng vấn đề hiện nay không phải là thiếu chuẩn mực, mà là thiếu những dữ liệu “sẵn sàng sử dụng” hay nói cách khác là những dữ liệu mà các tổ chức tài chính có thể trực tiếp khai thác trong quá trình ra quyết định tín dụng.
Trong đó, có bốn điểm nghẽn chính trong kiến trúc dữ liệu: (1) Khoảng trống độ bao phủ (Data Gaps): Thiếu dữ liệu từ các MSME; (2) Phân mảnh chính sách (Policy Fragmentation): Nhiều khung chuẩn mực cùng tồn tại (IFRS, GRI, CDP, RBA, CBAM...) dẫn đến trùng lặp công việc; (3) Thiếu tính kết nối thống nhất (Lack of Connectivity) nên một “bộ siêu dữ liệu khả thi tối thiểu” (minimum viable metadata) có thể đáp ứng đồng thời nhu cầu của kiểm toán, cơ quan quản lý và ngân hàng và (4) Vai trò của công cụ hỗ trợ (Role of Tools) phải đơn giản, dễ triển khai và giúp giảm chi phí tuân thủ.
Để giải quyết các điểm nghẽn này, các nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba đóng vai trò chiến lược, là “mảnh ghép trung tâm” kết nối các bên liên quan thông qua việc xây dựng hạ tầng dữ liệu để chuyển hóa các chuẩn mực ESG thành cấu trúc dữ liệu khả thi cho hệ thống tín dụng.
Theo ông Daniel Hsiao, Việt Nam có thể tham khảo các mô hình “từ dưới lên” của Singapore hoặc “từ trên xuống” của EU.
Cụ thể, mô hình GPRNT của Singapore là cách tiếp cận “từ dưới lên” và do Chính phủ dẫn dắt. Đây là một nền tảng số tập trung nhằm đơn giản hóa việc công bố thông tin ESG cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bằng cách kết nối nhiều nguồn dữ liệu, GPRNT giúp “biến gánh nặng dữ liệu thành cơ hội” và dễ sử dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Ngược lại, mô hình ESAP (Điểm truy cập duy nhất của Châu Âu) là cách tiếp cận “từ trên xuống” và thúc đẩy bởi pháp luật/quy định EU. Mục tiêu của ESAP là trở thành một nền tảng toàn EU cung cấp truy cập miễn phí, số hóa đến mọi thông tin tài chính và bền vững công khai tại một điểm duy nhất. Giải pháp này tập trung vào việc chuẩn hóa định dạng dữ liệu (có thể đọc máy) và có lộ trình triển khai dài hơi, dự kiến hoàn thiện chức năng vào năm 2030.
Trong số 21 trạm dừng nghỉ đầu tư mới do Bộ Xây dựng làm cơ quan chủ quản, 18 trạm đã hoàn thành công trình dịch vụ thiết yếu và đưa vào khai thác. Các trạm còn lại được yêu cầu đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành trong năm 2026...
Ga Hải Phòng và Ga Đà Lạt thiết lập quan hệ kết nghĩa với hai nhà ga tại Pháp, mở ra cơ hội trao đổi kinh nghiệm bảo tồn di sản, phát triển dịch vụ và xây dựng sản phẩm du lịch đường sắt giữa hai quốc gia...
Chính phủ đặt mục tiêu xây dựng Chương trình quốc gia phát triển công nghiệp hàng hải và cơ khí biển đến năm 2035, tầm nhìn 2050, đồng thời rà soát năng lực doanh nghiệp, hoàn thiện cơ chế tài chính và hình thành các cụm liên kết công nghiệp trọng điểm...
Tình trạng UAV, diều và các phương tiện bay khác xâm nhập khu vực cảng hàng không diễn biến phức tạp, khiến nhiều chuyến bay bị ảnh hưởng, thời gian gián đoạn khai thác có trường hợp kéo dài tới 4 giờ....
Vietnam Airlines, FPT và Skywise, đơn vị cung cấp dịch vụ số của Airbus, hợp tác nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm nâng cao độ tin cậy đội tàu bay, hỗ trợ bảo dưỡng kỹ thuật và xử lý các tình huống gián đoạn khai thác...
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều con số kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký đạt mức cao nhất kể từ năm 2009 đến nay (54,85 tỷ USD), vốn FDI thực hiện cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (24,08 tỷ USD). Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, bán lẻ và du lịch, nền kinh tế Việt Nam đang chứng tỏ đà tăng trưởng vững chắc…
Thiếu tướng Nguyễn Quốc Toản, Chánh Văn phòng, Người phát ngôn Bộ Công an xác nhận vừa triệt xóa vụ án lừa đảo liên quan đến 113 người nước ngoài đến từ nhiều quốc gia, khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Campuchia, Malaysia…