
Hiện nay, công tác phòng, chống sụt lún đất, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn còn đối mặt với 3 thách thức chủ yếu: Biến đổi khí hậu, nước biển dâng; gia tăng hoạt động khai thác, sử dụng nước của các quốc gia thượng nguồn sông Mekong; sự phát triển đô thị, các hoạt động kinh tế- xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Theo các kết quả nghiên cứu, hầu hết các vùng ở đồng bằng sông Cửu Long đều xảy ra lún từ 0,5-3 cm/năm; các vùng ven biển phổ biến lún từ 1,5-2,5 cm/năm. Thời gian xảy ra sụt lún thường xuất hiện trong mùa khô, đặc biệt là tại những năm hạn hán kéo dài.
Về thực trạng sạt lở bờ sông, bờ biển, từ năm 2016 đến nay đã xuất hiện 812 điểm sạt lở với tổng chiều dài trên 1.191 km, trong đó, sạt lở đặc biệt nguy hiểm là 315 điểm/601 km (sạt lở bờ sông 214 điểm/254 km, sạt lở bờ biển 101 điểm/347 km).
Trong 20 năm qua, đồng bằng sông Cửu Long chỉ có lũ vừa đến nhỏ, thời gian chỉ từ 3- 4 tháng so với 5- 6 tháng như trước đây, tuy nhiên, ngập úng do triều cường và mưa có xu thế ngày càng gia tăng.
Bên cạnh đó, những năm gần đây, đồng bằng sông Cửu Long đã xuất hiện 3 đợt hạn hán, xâm nhập mặn mức độ nặng, có 2 đợt cao lịch sử là mùa khô năm 2015- 2016, 2019- 2020.
Hiện nay, vùng đồng bằng sông Cửu Long chưa có phân vùng rủi ro sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn theo quy định của Luật Phòng, chống thiên tai; chậm thực hiện khoanh định các khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất, nhất là những khu vực khai thác quá mức, gây sụt lún với tốc độ cao; thiếu sự phối hợp vận hành tốt giữa các hệ thống công trình thủy lợi trong trường hợp thời tiết cực đoan làm cho xâm nhập mặn vào sâu nội đồng…
Cảnh báo về sụt lún, sạt lở bờ sông, bờ biển, ngập úng còn chung chung. Việc dự báo hạn hán, xâm nhập mặn mới chỉ tập trung thực hiện tương đối chính xác tại các khu vực cửa sông chính; thiếu các giải pháp mang tính tổng thể, đồng bộ.
Việc xử lý sụt lún, sạt lở bờ sông, bờ biển về cơ bản còn mang tính chất tình thế "đau đâu vá đấy". Hạ tầng đê điều, thủy lợi chưa hoàn thiện, chưa khép kín, nhiều đê bao, bờ bao bị xuống cấp, nguy cơ xảy ra sự cố trong mùa mưa lũ. Nhiều công trình thủy lợi, đê biển bị xuống cấp không đảm bảo kiểm soát nguồn nước, kiểm soát xâm nhập mặn. Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, hạ tầng thủy lợi tiêu thoát nước không theo kịp.
Số lượng các trạm quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng, quan trắc độ mặn trong các hệ thống thủy lợi còn ít, chưa bao quát được toàn bộ hệ thống.
Trước thực trạng trên, Đề án Phòng, chống sụt lún đất, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long xác định đây là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị; đảm bảo tính tổng thể, kết hợp đa mục tiêu; lấy chủ động phòng ngừa là chính, trong đó chú trọng quản trị rủi ro, "làm đâu được đấy"; bảo vệ môi trường giữa các vùng sinh thái ngọt- lợ- mặn; tăng cường sự tham gia của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân; ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến.
Tại cuộc họp về Đề án Phòng, chống sụt lún đất, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng đòng bằng bằng sông Cửu Long đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 diễn ra ngày 12/3/2025, các ý kiến tập trung thảo luận các nhóm giải pháp công trình và phi công trình trong phòng, chống sụt lún đất, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Theo đó, giải pháp phi công trình bao gồm: Hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách; thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước; điều tra cơ bản và xây dựng cơ sở dữ liệu; tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo…
Các giải pháp công trình tập trung xây dựng, củng cố, nâng cấp các công trình phòng, chống tổng hợp, đa mục tiêu và theo từng loại hình (sụt lún, sạt lở bờ sông, bờ biển, ngập úng, hạn hán), trong đó ưu tiên một số công trình kết nối, chuyển nước giữa các hệ thống thủy lợi ở Tiền Giang, Bạc Liêu, bán đảo Cà Mau;
Cùng với đó là hệ thống cống dọc sông Tiền, sông Hậu để kiếm soát lũ, ngập úng, kết hợp nạo vét, trữ nước ngọt trong các kênh trục vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên; các công trình kiểm soát nguồn nước tại cửa sông; nâng cấp, hoàn thiện, khép kín những hệ thống thủy lợi lớn, quan trọng; xây dựng, nâng cấp, củng cố hệ thống đê biển từ Tiền Giang đến Kiên Giang…
Đại diện các tỉnh Kiên Giang, Bến Tre, An Giang, Sóc Trăng, Cà Mau, TP. Cần Thơ cho rằng về căn cơ, lâu dài cần hoàn thiện, khép kín các hệ thống thủy lợi kiểm soát xâm nhập mặn, điều tiết lũ, bảo đảm nguồn nước ngọt phục vụ sản xuất, sinh hoạt cho người dân; tập trung xử lý các khu vực bờ biển, bờ sông bị sạt lở gây nguy hiểm; giải quyết tình trạng ngập úng cục bộ do triều cường; thống nhất các chương trình tái định cư cho người dân di dời khỏi khu vực sạt lở bờ sông/kênh/rạch…
Chỉ đạo vấn đề này, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp thu đầy đủ các ý kiến; báo cáo Bộ Chính trị tình hình triển khai các nghị quyết, kết luận, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với công tác phòng, chống sụt lún đất, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long…;Đồng thời xây dựng Chương trình chi tiết, cụ thể triển khai ngay từ năm 2025 theo tinh thần "nói và hành động".
Chương trình phải đề xuất cụ thể phạm vi, mục tiêu, giải pháp (công trình và phi công trình), cơ chế quản lý, danh mục dự án, nguồn kinh phí… Mục tiêu là giải quyết những vấn đề trước mắt, cấp bách, một cách xuyên suốt, liên hoàn, phát huy hiệu quả tổng thể của các công trình phù hợp với 3 vùng sinh thái ngọt- lợ- mặn, kết hợp hài hòa giữa thủy lợi và giao thông.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng tiêu chí xác định ưu tiên các công trình cấp bách, tiếp cận theo hướng tổng thể, lâu dài, bền vững. Những hệ thống, công trình thủy lợi đã được đầu tư giai đoạn 1 nhưng cần tiếp tục đầu như Cái Lớn- Cái Bé, Vàm Cỏ, Hàm Luông… phải được thiết kế xây dựng bảo đảm tính liên hoàn, đồng bộ và thống nhất, tránh xung đột giữa hệ thống này với hệ thống khác.
Theo Phó Thủ tướng, hệ thống công trình thủy lợi cần ưu tiên giải quyết tình trạng ngập lụt do triều cường, chống xâm nhập mặn, cung cấp nguồn nước ngọt.
Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng và các địa phương rà soát, bổ sung quy hoạch, tích hợp các chương trình, dự án hỗ trợ di dời dân cư do sạt lở, phòng, chống thiên tai tại đồng bằng sông Cửu Long đưa vào nhóm nhiệm vụ cấp bách của Chương trình.
Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm việc với Ngân hàng Thế giới (WB) nhằm tích hợp, kết hợp giữa các dự án hạ tầng giao thông với công trình thủy lợi sử dụng nguồn vốn vay của WB.
Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần khẩn trương xây dựng dự án tích hợp về phát triển kinh tế, thích ứng biến đổi khí hậu đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long và TP. Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa– Vũng Tàu thông qua việc xây dựng hệ thống công trình thủy lợi Vũng Tàu– Gò Công...
Quy định "bố trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường với tỷ lệ tăng dần…" vẫn mang tính định hướng, chưa thể hiện rõ quyết tâm ưu tiên nguồn lực. Do đó, đại biểu cho rằng quy định rõ tỷ lệ chi tối thiểu cho bảo vệ môi trường trong tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm ngay trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, tương tự như lĩnh vực giáo dục hay khoa học công nghệ...
Trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 15 (2026-2030), Trung Quốc đặt mục tiêu đưa pin thể rắn hoàn toàn vào ứng dụng quy mô lớn ban đầu từ năm 2030, đồng thời chuyển trọng tâm ngành pin từ mở rộng công suất sang nâng cao công nghệ và năng lực cạnh tranh…
Cục Hàng không Việt Nam đang phối hợp xây dựng lộ trình sử dụng nhiên liệu hàng không bền vững (SAF), đồng thời hoàn thiện các quy định về giảm phát thải khí nhà kính trong hàng không dân dụng...
Thay vì lựa chọn giữa đất nông nghiệp và điện mặt trời, mô hình nông nghiệp kết hợp điện mặt trời (agrivoltaics) cho phép cây trồng, vật nuôi và các tấm pin cùng tồn tại trên một diện tích đất, mở ra hướng đi mới cho sản xuất năng lượng và nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu…
Trong các lĩnh vực giao thông, đường bộ và giao thông đô thị ghi nhận mức độ chuyển đổi phương tiện điện rõ nét nhất, đặc biệt tại các đô thị lớn...
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Việt Nam hiện đã hoàn tất kết nối thanh toán QR xuyên biên giới với 6 quốc gia trong khu vực và châu Á, đang triển khai kết nối với Đài Loan (Trung Quốc), Ấn Độ và tiếp tục triển khai mở rộng dịch vụ với các quốc gia khác trong thời gian tới.