Tính chung trên toàn địa bàn, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu cũ có số lượng được đưa vào danh mục lớn nhất với 48 ao, hồ, đầm; kế đến là Bình Dương với 17 ao, hồ, đầm; và TP.Hồ Chí Minh cũ với 2 ao, hồ.
UBND TP.Hồ Chí Minh vừa công bố danh mục hồ, ao, đầm, phá không được san lấp đã thu hút sự quan tâm của giới quy hoạch và quản lý đô thị. Danh mục này trải rộng trên nhiều khu vực của thành phố sau sáp nhập, từ khu vực trung tâm đến các địa bàn Bình Dương cũ và Bà Rịa - Vũng Tàu cũ.
Nếu như trước đây, TP.Hồ Chí Minh chỉ có 8 ao, hồ thuộc diện không được san lấp theo danh mục được công bố năm 2023, thì quy mô bảo vệ hiện nay đã mở rộng đáng kể.
Từ những hồ điều hòa nằm giữa khu vực đô thị đến các hồ chứa, đầm và phá ven biển, TP.Hồ Chí Minh đang sở hữu một hệ thống mặt nước đa dạng hơn đáng kể sau khi mở rộng địa giới hành chính. Điều này phản ánh sự thay đổi trong cách tiếp cận đối với tài nguyên mặt nước khi thành phố bước sang giai đoạn phát triển mới với không gian đô thị rộng lớn hơn.
Danh mục được công bố 5 năm một lần không chỉ bao gồm các hồ nhỏ trong khu dân cư, mà còn có nhiều thủy vực quy mô lớn đang giữ vai trò quan trọng trong điều tiết nguồn nước và duy trì hệ sinh thái.
Chẳng hạn, tại khu vực tỉnh Bình Dương cũ, hồ Đá Bàn có diện tích mặt nước khoảng 1,36 triệu m2 và dung tích gần 5,9 triệu m3 nước, là một trong những hồ chứa lớn được đưa vào diện bảo vệ; hồ Cần Nôm có dung tích gần 7,5 triệu m3, phục vụ điều tiết và cấp nước tưới.
Khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, hồ Sông Ray với diện tích mặt nước hơn 19,2 triệu m2 và dung tích khoảng 215,36 triệu m3; hồ Đá Đen diện tích khoảng 6,61 triệu m2 và dung tích 33,4 triệu m3; hồ Đá Bàng diện tích khoảng 2,14 triệu m2 và dung tích 11,35 triệu m3.
Đặc biệt, khu vực TP.Hồ Chí Minh cũ, hai thủy vực được đưa vào danh mục cấm san lấp gồm ao cá Hương Tràm (phường Tân Thuận, quận 7 cũ), có diện tích mặt nước khoảng 45.000 m2, phục vụ du lịch và giải trí; và ao Song Tân (phường Tân Hưng, quận 7 cũ) có diện tích hơn 94.000 m2, phục vụ chỉnh trang đô thị.
Tính chung trên toàn địa bàn, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu cũ có số lượng được đưa vào danh mục lớn nhất với 48 ao, hồ, đầm; kế đến là Bình Dương với 17 ao, hồ, đầm; và TP.Hồ Chí Minh cũ với 2 ao, hồ.
Trong nhiều năm, tốc độ đô thị hóa nhanh đã khiến không ít ao hồ, vùng trũng tự nhiên bị thu hẹp hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng. Trong khi đó, các nghiên cứu về quản lý đô thị cho thấy, những không gian chứa nước tự nhiên có vai trò đặc biệt quan trọng đối với khả năng chống chịu của thành phố trước mưa lớn, triều cường và biến đổi khí hậu.
Đối với TP.Hồ Chí Minh, nơi thường xuyên chịu áp lực ngập úng trong mùa mưa, các hồ, ao, đầm tự nhiên được ví như những “bể chứa” hỗ trợ hệ thống thoát nước. Khi lượng mưa tăng cao hay xuất hiện các đợt triều cường, các không gian này góp phần giảm áp lực cho hệ thống hạ tầng kỹ thuật; đồng thời duy trì cân bằng thủy văn của khu vực.
Từ góc nhìn quy hoạch, việc xác lập danh mục thủy vực được bảo vệ cho thấy Thành phố đang chuyển từ cách quản lý từng thủy vực riêng lẻ sang quản lý một mạng lưới mặt nước có tính kết nối trên quy mô toàn địa bàn.
Cùng với giao thông, cấp nước, thoát nước hay năng lượng, nhiều đô thị trên thế giới hiện nay đã xem hệ thống sông, hồ và vùng ngập nước là một bộ phận của hạ tầng xanh - hạ tầng sinh thái.
Xu hướng này ngày càng được nhấn mạnh trong các chiến lược phát triển đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu. Thay vì chỉ đầu tư các công trình nhân tạo, nhiều thành phố ưu tiên bảo vệ các yếu tố tự nhiên có khả năng hỗ trợ điều tiết nước, cải thiện vi khí hậu và nâng cao chất lượng môi trường sống.
Đối với TP.Hồ Chí Minh, lợi thế này đang trở nên rõ nét hơn sau khi địa giới hành chính được mở rộng. Bên cạnh mạng lưới sông ngòi và kênh rạch vốn có, thành phố 16 triệu dân này hiện sở hữu thêm nhiều hồ chứa, đầm, phá và vùng mặt nước tự nhiên phân bố trên phạm vi rộng.
Thực tế những khu vực này không chỉ có giá trị về môi trường mà còn tạo điều kiện hình thành các hành lang sinh thái kết nối giữa không gian đô thị với các vùng tự nhiên. Đây là yếu tố được nhiều đồ án quy hoạch hiện đại coi là nền tảng để nâng cao chất lượng sống và phát triển đô thị bền vững.
Trong bối cảnh quỹ đất phát triển ngày càng hạn chế, việc giữ lại các không gian mặt nước tự nhiên cũng đồng nghĩa với việc duy trì dư địa cho các giải pháp thích ứng dài hạn. Nhiều đô thị trên thế giới hiện phải bỏ ra nguồn kinh phí rất lớn để phục hồi các hồ nước, vùng ngập hoặc dòng chảy đã bị lấp bỏ trong quá khứ nhằm giải quyết các vấn đề về ngập úng và môi trường.
Đối với TP.Hồ Chí Minh, việc chủ động bảo vệ 67 thủy vực ngay từ giai đoạn hiện nay có thể xem là bước đi nhằm hạn chế những rủi ro tương tự trong tương lai.
Danh mục các hồ, ao, đầm, phá không được san lấp vì vậy không chỉ mang ý nghĩa quản lý tài nguyên nước mà còn phản ánh định hướng phát triển đô thị dựa trên sự hài hòa giữa hạ tầng nhân tạo và hạ tầng tự nhiên.
Có thể nói, khi quy mô đô thị tiếp tục mở rộng, hệ thống mặt nước nhiều khả năng sẽ không còn được nhìn nhận đơn thuần là yếu tố cảnh quan hay tài nguyên môi trường, mà trở thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển đô thị thích ứng và bền vững của TP.Hồ Chí Minh.
Từ con tàu “Lenin” của Liên Xô đến đội tàu phá băng hạt nhân thế hệ mới của Nga, những con tàu này không chỉ mở đường xuyên qua lớp băng dày ở Bắc Cực mà còn trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển Tuyến đường biển phương Bắc (NSR). Với khả năng duy trì hoạt động dài ngày trong điều kiện khắc nghiệt, đội tàu góp phần bảo đảm vận chuyển dầu khí, khoáng sản và hàng hóa, đồng thời tạo nền tảng hạ tầng cho phát triển kinh tế, năng lượng và logistics tại Bắc Cực…
Thay vì chỉ phát triển các khu công nghiệp mới theo tiêu chí xanh, TP. Đồng Nai đang đặt ra lộ trình chuyển hóa những khu công nghiệp đã hình thành sang mô hình xanh, sinh thái. Từ sản xuất sạch hơn, cộng sinh công nghiệp đến sử dụng năng lượng hiệu quả và kiểm kê khí nhà kính, quá trình này đang được cụ thể hóa bằng một loạt kế hoạch trong năm 2026.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất 18 lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ mà người có chức vụ, quyền hạn trong lĩnh vực đó sau khi thôi giữ chức vụ không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã, tăng 5 lĩnh vực so với quy định hiện hành...
Việt Nam đang nghiên cứu phát triển các trung tâm công nghiệp - dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng điện gió, điện mặt trời và thúc đẩy hình thành chuỗi cung ứng công nghiệp xanh trong nước. Với vai trò kết nối sản xuất điện, chế tạo thiết bị, hạ tầng cảng biển, logistics và đào tạo nhân lực, mô hình này được kỳ vọng tạo động lực mới cho chuyển dịch năng lượng và công nghiệp xanh...
Từng phổ biến trong những khu vườn thời Xô viết nhưng dần bị các giống mận phù hợp hơn với sản xuất công nghiệp thay thế, Mirabelle đang trở lại tại nhiều khu vườn ở Nga. Câu chuyện về một giống cây có quả nhỏ, mềm, khó vận chuyển nhưng giàu hương vị không chỉ cho thấy sự thay đổi trong thị hiếu tiêu dùng, mà còn gợi mở cách nhìn mới về bảo tồn nguồn gen, chế biến tại chỗ và phát triển nông nghiệp xanh...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập bình quân ngay trong tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%.