Xuất khẩu chè: Từ áp lực sụt giảm đến cơ hội tái định vị giá trị năm 2026
CChu Minh Khôi
Chọn cỡ chữ
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tháng 1/2026, xuất khẩu chè của Việt Nam ước đạt 14 nghìn tấn, trị giá khoảng 23 triệu USD, tăng mạnh 44,7% về khối lượng và 40,3% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Chè Shan Tuyết phù hợp với phân khúc chè cao cấp và hữu cơ.
Tuy nhiên, giá chè xuất khẩu
bình quân trong tháng 1/2026 chỉ đạt 1.644 USD/tấn, giảm khoảng 3% so với cùng
kỳ. Những con số này phản ánh bức tranh hai chiều của ngành chè: tín hiệu phục
hồi về lượng trong ngắn hạn, song áp lực về giá và giá trị gia tăng vẫn hiện hữu.
CHƯA TẠO ĐƯỢC ĐỘT PHÁ VỀ GIÁ TRỊ
Nhìn lại cả năm 2025, theo
số liệu của Hải quan Việt Nam, xuất khẩu chè Việt Nam đạt 136.952 tấn, với giá
xuất khẩu bình quân 1.737 USD/tấn, thu về gần 238 triệu USD. So với năm 2024,
kim ngạch giảm 0,72%, sản lượng giảm 7,07%, trong khi giá xuất khẩu gần như đi
ngang. Điều này cho thấy ngành chè vẫn đang loay hoay trong bài toán tăng trưởng
dựa trên số lượng, chưa tạo được đột phá về giá trị.
Dữ liệu từ Cục Hải quan Việt
Nam cho thấy, riêng tháng 12/2025, xuất khẩu chè đạt gần 13.844 tấn, trị giá
23,89 triệu USD, tăng gần 3% về lượng nhưng lại giảm 3,65% về trị giá so với
tháng trước. Xu hướng này tiếp tục khẳng định thực tế: tăng khối lượng xuất khẩu
không đồng nghĩa với tăng kim ngạch nếu chất lượng, phân khúc và thương hiệu
chưa được cải thiện.
Về thị trường xuất khẩu chè
năm 2025, Pakistan, Đài Loan (Trung Quốc) và Trung Quốc (Đại lục) tiếp tục là
ba điểm đến lớn nhất của chè Việt Nam trong năm 2025, chiếm khoảng 53% tổng kim
ngạch xuất khẩu. Trong đó, Pakistan giữ vị trí dẫn đầu với kim ngạch gần 79,5
triệu USD, chiếm hơn 33% tổng giá trị. Tuy nhiên, so với năm 2024, xuất khẩu
chè sang thị trường này lại giảm tới 25,5% về giá trị, phản ánh rõ sự phụ thuộc
rủi ro vào một số thị trường truyền thống.
Ngược lại, xuất khẩu chè
sang Đài Loan và Trung Quốc ghi nhận những điểm sáng khi lần lượt tăng 1,7% và
7,3% về giá trị. Đáng chú ý, trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Iraq
là thị trường tăng trưởng mạnh nhất với mức tăng gần 50%, trong khi Indonesia
ghi nhận mức giảm sâu nhất, lên tới gần 40%.
Khu vực Đông Nam Á tiếp tục
là “điểm trũng” khi xuất khẩu chè của Việt Nam sang khu vực này trong năm 2025
giảm hơn 17% về lượng và hơn 16% về trị giá. Nhiều thị trường lớn như
Indonesia, Hoa Kỳ và Nga đều ghi nhận mức sụt giảm hai chữ số, cho thấy áp lực
cạnh tranh ngày càng gia tăng trên thị trường quốc tế.
CHÈ SHAN TUYẾT – “ÁT CHỦ BÀI” NÂNG TẦM GIÁ TRỊ CHÈ VIỆT
Bước sang năm 2026, ngành
chè Việt Nam đứng trước một giai đoạn mang tính bản lề. Theo các chuyên gia,
đây là thời điểm để ngành chè chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “bán nhiều” sang
“bán giá trị”, từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang xây dựng sản phẩm có thương hiệu,
truy xuất nguồn gốc và giá trị gia tăng cao.
Việt Nam hiện có khoảng
128 nghìn ha chè, sản lượng chè búp tươi hơn 1 triệu tấn mỗi năm, tương đương
khoảng 214 nghìn tấn chè khô, đưa Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về sản xuất chè.
Đây là nền tảng quan trọng để phát triển ngành chè theo hướng chất lượng cao và
bền vững.
Một lợi thế nổi bật của
chè Việt Nam là điều kiện tự nhiên đa dạng, với nhiều tiểu vùng khí hậu đặc thù
ở trung du và miền núi cao, tạo nên các vùng chè nổi tiếng như Thái Nguyên, Mộc
Châu, Suối Giàng, Hà Giang hay Lâm Đồng. Tuy nhiên, ngành chè Việt Nam cũng
đang đối mặt với không ít thách thức. Chất lượng nguyên liệu chưa đồng đều giữa
các vùng, quy trình sản xuất còn manh mún, thiếu tiêu chuẩn hóa, khiến giá trị
gia tăng thấp. Công nghệ chế biến ở nhiều địa phương vẫn lạc hậu, khó đáp ứng
các yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm và chất lượng quốc tế. Bên
cạnh đó, chi phí chứng nhận Organic EU, Rainforest Alliance hay các tiêu chuẩn
bền vững khác đang tạo áp lực lớn cho doanh nghiệp và nông hộ nhỏ.
Theo Tiến sĩ
Nguyễn Ngọc Bình, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Miền
núi phía Bắc, công nghệ chế biến trong nước đang dần được nâng cấp, mở ra khả
năng đa dạng hóa sản phẩm từ chè xanh, chè đen, Ô long đến Matcha, trà thảo mộc
hay các dòng trà cao cấp. Đặc biệt, nguồn gen chè Shan Tuyết cổ thụ phân bố chủ yếu ở độ cao trên 800 m, được đánh
giá là hiếm có trên thế giới, phù hợp với phân khúc chè cao cấp và hữu cơ.
Trong khi giá chè thông thường của Việt Nam xuất khẩu thường chỉ ở mức giá bằng
một nửa giá chè bình quân của thế giới, thì giá chè Shan Tuyết xuất khẩu cao gấp
nhiều lần.
Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng toàn cầu ngày càng ưa chuộng các sản phẩm tự
nhiên, hữu cơ và có nguồn gốc rõ ràng, chè Shan Tuyết, chè đặc sản và chè thủ
công của Việt Nam được xem là những “át chủ bài” nếu được đầu tư đúng hướng".
Tuy vậy, với các vùng chè
Shan Tuyết, hiện năng suất thấp, chuỗi liên kết lỏng lẻo, thương hiệu và truy
xuất nguồn gốc chưa được đầu tư bài bản. Nếu không có chiến lược bảo tồn và
phát triển đồng bộ, nguồn gen quý này có nguy cơ bị khai thác quá mức và mai một
giá trị.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Ngọc
Bình, để nâng cao giá trị chè Shan Tuyết, Việt Nam cần ưu tiên đổi mới công nghệ
chế biến theo hướng tự động hóa, số hóa dây chuyền; ứng dụng IoT để kiểm soát
các công đoạn héo, lên men, diệt men và bảo quản. Đồng thời, cần đa dạng hóa sản
phẩm như bạch trà, hồng trà, Phổ Nhĩ, kết hợp hợp tác với các chuyên gia chế biến
chè từ Trung Quốc, Đài Loan hay Nhật Bản để tạo ra các sản phẩm chất lượng cao,
phù hợp từng phân khúc thị trường.
Về dài hạn, đổi mới công
nghệ, chuẩn hóa vùng nguyên liệu, bảo tồn chè cổ thụ và phát triển chuỗi giá trị
gắn với truy xuất nguồn gốc được xem là nhiệm vụ then chốt. Nếu tận dụng tốt
các lợi thế sẵn có và triển khai đồng bộ các giải pháp, ngành chè Việt Nam hoàn
toàn có cơ hội tái định vị trên bản đồ chè thế giới, chuyển từ “nhà cung ứng
nguyên liệu” sang “nhà sản xuất sản phẩm chè chất lượng cao và bền vững” trong
giai đoạn tới.
Lắng nghe không chỉ để thấu cảm, để ghi nhận vào các bản báo cáo gửi đi rồi xếp ngăn kéo. VCCI sẽ cùng Tổ công tác của Đề án "Lắng nghe để Kiến tạo" chuyển hóa thành các đề xuất sửa đổi từng điều khoản, từng nghị định, từng thông tư; kiên trì bám sát, đôn đốc các cơ quan chức năng giải quyết dứt điểm những vướng mắc, rào cản pháp lý cho doanh nghiệp…
Dù thời điểm EUDR chính thức có hiệu lực đã cận kề, song doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể biến rào cản kỹ thuật khắt khe này thành cơ hội chuẩn hóa quy trình, minh bạch chuỗi cung ứng và nâng tầm vị thế nông sản Việt trên trường quốc tế...
Dù không thuộc nhóm nông sản có kim ngạch xuất khẩu lớn, nhưng mật ong Việt Nam đang được đánh giá là ngành hàng giàu tiềm năng nhờ lợi thế tự nhiên, giá trị sinh thái và khả năng tạo sinh kế bền vững. Việc FAO lựa chọn mật ong Việt Nam tham gia sáng kiến “Mỗi quốc gia một sản phẩm ưu tiên” mở ra cơ hội nâng cao giá trị gia tăng, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường cho ngành nuôi ong...
Trước biến động của thị trường thế giới, giá xăng dầu trong nước ngày 24/9 đồng loạt tăng mạnh. Đáng chú ý, kỳ điều hành này liên Bộ Công Thương – Tài chính quyết định không trích lập và không chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu…
Thương hiệu không chỉ là danh xưng hoa mỹ mà cốt lõi chính là niềm tin được chuyển hóa thành lợi ích kinh tế thiết thực. Tuy nhiên, nếu không được nâng đỡ bởi năng lực công nghệ nội tại và hoạt động đổi mới sáng tạo liên tục, thương hiệu chỉ là một lớp vỏ rỗng, khiến nền kinh tế dễ rơi vào bẫy gia công giá trị thấp...
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Làng nghề gỗ truyền thống đang ngày càng khẳng định tay nghề trong từng đường đục, nét chạm; tìm hướng đổi mới sản phẩm, ứng dụng công nghệ, mở rộng thị trường và tận dụng phụ phẩm gỗ, từng bước hình thành chuỗi sản xuất và tiêu dùng bền vững.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...