"Giá gạo xuất khẩu bình quân trong tháng 1/2025 chỉ ở mức 616 USD/tấn, giảm so với mức giá xuất khẩu bình quân 627 USD/tấn của năm 2024".
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tháng 1/2025, nước ta xuất khẩu khoảng 500.000 tấn gạo, thu về 308 triệu USD, tăng 1% về lượng nhưng giảm 10,4% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.
Từ đầu năm 2025 đến nay, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm xuống thấp nhất thế giới. Đặc biệt, trong vòng 10 ngày đầu của tháng 2/2025, giá gạo xuất khẩu càng rớt nhanh.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), hiện gạo tẻ thường loại 5% tấm xuất khẩu chỉ ở mức 399 USD/tấn; gạo 25% tấm ở mức 371 USD/tấn; gạo 100% tấm ở mức 313 USD/tấn - đây là mức giá thấp nhất trong 9 năm qua. Trong khi đó, giá gạo 5% tấm của Thái Lan hiện đang đứng ở mức 433 USD/tấn (cao hơn 34 USD/tấn so với gạo Việt Nam); gạo 25% tấm đứng ở mức 411 USD/tấn (cao hơn 40 USD/tấn so với gạo Việt Nam) và gạo 100% tấm đứng ở mức 377 USD/tấn (cao hơn 64 USD/tấn so với gạo Việt Nam).
"Giá gạo xuất khẩu bình quân trong tháng 1/2025 chỉ ở mức 616 USD/tấn, giảm so với mức giá xuất khẩu bình quân 627 USD/tấn của năm 2024".
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Với giá gạo Ấn Độ, gạo 5% xuất khẩu hiện cũng đang đứng ở mức 413 USD/tấn; gạo 25% tấm ở mức 394 USD/tấn. Gạo Pakistan 5% tấm xuất khẩu đứng ở mức 404 USD/tấn; gạo 25% tấm đứng ở mức 377 USD/tấn và gạo 100% tấm đứng ở mức 340 USD/tấn.
Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) nhận định, tình trạng giá gạo xuống quá thấp hiện nay rất đáng lo ngại. Trong suốt những năm 2016-2022, giá gạo xuất khẩu loại tẻ thường 5% tấm của Việt Nam luôn dao động ở mức 420-535 USD/ tấn. Năm 2023, giá gạo xuất khẩu tăng cao nhờ việc Ấn Độ dừng xuất khẩu gạo, khiến giá gạo 5% tấm của Việt nam đạt đỉnh cao nhất 15 năm (tính từ năm 2008) là 663 USD/tấn vào tháng 11/2023. Đến thời điểm này, giá gạo tẻ xuất khẩu của nước ta đã đã giảm 264 USD, tương đương 40% so với cuối năm 2023.
Theo VFA, hiện tại nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gạo đang rất lo lắng, vì số đơn hàng giảm rất mạnh, có những doanh nghiệp cho biết không có đơn hàng nào ký kết cho thời gian xuất khẩu trong tháng 2. Việt Nam sắp bước vào vụ thu hoạch đông xuân - vụ có sản lượng lớn nhất năm. Thời tiết thuận lợi nên sản lượng dự báo dồi dào, khiến nhiều nhà nhập khẩu đang tạm dừng mua hàng để chờ mua với giá thấp hơn.
Cho rằng giá gạo điều tiết theo cung cầu, nhưng VFA thông tin thêm rằng gạo thơm và chất lượng cao vẫn có thị trường riêng, nên giá các loại gạo này vẫn không giảm. Nhiều doanh nghiệp vẫn xuất khẩu được gạo thơm, gạo đặc sản với giá 800 – 1.200 USD/tấn. Hiện nhiều hợp đồng xuất khẩu gạo đặc sản ST25 với giá hơn 1.000 USD/tấn.
Mặc dù giá gạo tẻ xuất khẩu đã xuống dưới mức 400 USD/tấn trong tháng 1/2025, nhưng giá gạo xuất khẩu bình quân của tháng vẫn trên mốc 600 USD/tấn, là nhờ sức kéo của gạo thơm và gạo đặc sản.
Ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng rớt giá gạo xuất khẩu hiện nay là do Ấn Độ nới lỏng lệnh hạn chế xuất khẩu gạo sau 2 năm siết chặt. Nguồn cung tăng do Ấn Độ quay lại thị trường. Đặc biệt, Ấn Độ có lượng gạo dự trữ cao kỷ lục, trong khi dự trữ lúa mì lại thấp hơn mức trung bình 5 năm. Điều này khiến nguồn cung trên thị trường quốc tế gia tăng, tạo áp lực cạnh tranh cho các nước xuất khẩu khác, trong đó có Việt Nam. Trong khi đó, nhu cầu nhập gạo của các thị trường lớn như Philippines, Indonesia cũng đang giảm sút, khi các nước này đã tích lũy đủ dự trữ trong năm 2024 và chờ giá giảm thêm trước khi tái nhập khẩu.
"Thị trường gạo hiện tại đang gặp khó nhưng chỉ tạm thời và sẽ sớm hồi phục. Giá gạo hiện đang ở mức đáy, nên sắp tới dự kiến các nhà nhập khẩu sẽ đẩy mạnh mua vào và giá sẽ đi lên", Thứ trưởng Phùng Đức Tiến kỳ vọng; đồng thời cho biết các nhà nhập khẩu gạo từ Philippines, Indonesia và Malaysia sẽ quay trở lại ký hợp đồng mua gạo trong những ngày tới.
Trong năm 2024, Philippines là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam với thị phần chiếm 46,1%; Indonesia và Malaysia là hai thị trường lớn tiếp theo với thị phần tương ứng là 13,2% và 7,5%. So với năm 2023, giá trị xuất khẩu gạo năm 2024 sang thị trường Philippines tăng 48,9%, thị trường Indonesia tăng 16,6%, thị trường Malaysia tăng 2,1 lần.Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất, giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh nhất ở thị trường Malaysia với mức tăng 2,1 lần; thị trường có giá trị xuất khẩu giảm mạnh nhất là Trung Quốc với mức giảm 68,4%.
"Dù áp lực gia tăng, Việt Nam vẫn có lợi thế lớn nếu chú trọng vào chất lượng gạo. Các dòng gạo thơm, dẻo cao cấp như ST25 tiếp tục nhận được sự ưa chuộng từ các thị trường khó tính. Việc phát triển các giống lúa chịu hạn, chịu mặn và ứng phó với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ giúp duy trì sản lượng ổn định, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lâu dài".
Ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho rằng giải pháp để thoát khỏi tình trạng hiện nay là phải đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường cho xuất khẩu gạo. Với thị trường Philippines, Indonesia, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang phối hợp với các doanh nghiệp xúc tiến để giữ khối lượng xuất khẩu gạo ổn định và giá phù hợp theo từng thời điểm.
Cùng với thị trường như Hoa Kỳ, Trung Quốc, các doanh nghiệp cũng cần quan tâm đến thị trường EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines. Các doanh nghiệp cần tập trung không chỉ vào phân khúc gạo cao cấp, mà còn mở rộng sang các thị trường tiềm năng mới như Trung Đông, nơi ưa chuộng các loại gạo rời, hạt dài. Việc đa dạng hóa sản phẩm và thị trường là yếu tố sống còn để phát triển bền vững.
Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, xuất khẩu gạo toàn cầu năm 2025 dự kiến đạt 56,3 triệu tấn, tăng 2,3 triệu tấn so với dự báo trước đó. Nguồn cung dồi dào sẽ gia tăng áp lực cạnh tranh giữa các quốc gia xuất khẩu. Hiện các quốc gia sản xuất gạo lớn như Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan đang đẩy mạnh cung ứng để tận dụng cơ hội xuất khẩu. Do đó, Việt Nam phải linh hoạt hơn trong chiến lược, tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm và tối ưu hóa thương hiệu.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.