Theo số liệu báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong kỳ 1 tháng 11/2023 (từ ngày 01/11 đến hết ngày 15/11/2023), tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa sơ bộ đạt 29,42 tỷ USD, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước.
Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/11/2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa sơ bộ đạt 587,68 tỷ USD, giảm 9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu giảm 6,4%; nhập khẩu giảm 11,7%.
Cụ thể, về xuất khẩu, trong kỳ 1 tháng 11/2023 đạt 14,65 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 4,01 tỷ USD, tăng 13,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 10,64 tỷ USD, tăng 3,9%.
Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/11/2023, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sơ bộ đạt 306,06 tỷ USD, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 81,49 tỷ USD, giảm 2,6%, chiếm 26,6% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 224,57 tỷ USD, giảm 7,7%, chiếm 73,4%.
Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/11/2023 có 33 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 92,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 07 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 66,1%).
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu, tính từ đầu năm đến hết ngày 15/11/2023, nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản sơ bộ đạt 3,76 tỷ USD, chiếm 1,2%; nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 270,45 tỷ USD, chiếm 88,4%; nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 24,02 tỷ USD, chiếm 7,8%; nhóm hàng thủy sản đạt 7,82 tỷ USD, chiếm 2,6%.
Từ chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa kỳ 1 tháng 11/2023 sơ bộ đạt 14,77 tỷ USD, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 5,23 tỷ USD, giảm 3,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 9,54 tỷ USD, giảm 0,3%.
Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/11/2023, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa sơ bộ đạt 281,62 tỷ USD, giảm 11,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 100,54 tỷ USD, giảm 9,8%, chiếm 35,7% tổng kim ngạch nhập khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 181,08 tỷ USD, giảm 12,7%, chiếm 64,3%.
Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/11/2023 có 43 mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 92,2% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 03 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 43,6%).
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu tính từ đầu năm đến hết ngày 15/11/2023, nhóm hàng tư liệu sản xuất sơ bộ đạt 264,13 tỷ USD, chiếm 93,8%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 45,8%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 48%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng sơ bộ đạt 17,49 tỷ USD, chiếm 6,2%.
Với kết quả trên, cán cân thương mại hàng hóa sơ bộ kỳ 1 tháng 11/2023 nhập siêu 0,12 tỷ USD. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/11/2023, cán cân thương mại hàng hóa sơ bộ xuất siêu 24,44 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 8,1 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 19,05 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 43,49 tỷ USD.
Trong bối cảnh đất nước đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhanh và bền vững, việc sản xuất thành công nhôm thỏi đầu tiên không chỉ là thành quả của một dự án công nghiệp, mà còn là sự khẳng định về năng lực tự chủ, hiện thực hóa khát vọng chế biến sâu và nâng cao giá trị tài nguyên quốc gia...
Chỉ trong một thập kỷ, tỷ trọng của tôm hùm trong tổng kim ngạch xuất khẩu tôm đã tăng từ khoảng 7% lên gần 25% trong nửa đầu năm 2026. Đà tăng trưởng này mở ra triển vọng đưa tôm hùm trở thành ngành hàng xuất khẩu tỷ USD nếu tháo gỡ được các rào cản thị trường và xây dựng chiến lược phát triển dài hạn...
Việt Nam hiện là quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu. Tuy nhiên, trước áp lực từ các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu, ngành hàng này cần thay đổi chiến lược: chuyển từ tăng trưởng quy mô sang ưu tiên chất lượng và tính bền vững. Để giữ vững vị thế, việc xây dựng chuỗi giá trị minh bạch và thắt chặt quy trình kiểm soát chất lượng là yêu cầu cấp thiết...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.
Các chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đang tạo ra những thách thức và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam. Mức thuế 12,5% theo Điều 301 không gây tác động tiêu cực lớn đến xuất khẩu công nghệ cao, nhưng lại đặt ra bài toán khó cho ngành nông sản và dệt may. Việt Nam cần có chiến lược thích ứng để duy trì lợi thế cạnh tranh.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 30-2026 phát hành ngày 27/07/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.