
Theo số liệu của cơ quan thống kê, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá tháng 11/2012 của cả nước ước đạt 20,45 tỷ USD.
Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá ước đạt 10,2 tỷ USD, giảm 1,18% so với thực hiện tháng 10/2012. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá ước đạt 10,25 tỷ USD, tăng nhẹ so với thực hiện tháng trước.
Như vậy, tính riêng trong tháng 11, cả nước ước nhập siêu khoảng 50 triệu USD, từ mức nhập siêu 166 triệu USD trong tháng 10/2012.
Cũng như tháng trước, trong tháng 11 này, chỉ có hai nhóm đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc đạt 1,3 tỷ USD, điện thoại các loại và linh kiện đạt 1,35 tỷ USD. Ở các nhóm còn lại, xuất khẩu dầu thô đạt gần 805 triệu USD, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (790 triệu USD), thủy sản (550 triệu USD), phương tiện vận tải và phụ tùng (340 triệu USD),...
| ● Kim ngạch xuất khẩu tháng 11 ước đạt 10,2 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu đạt 10,25 tỷ USD. ● Trong tháng 11, cả nước ước nhập siêu khoảng 50 triệu USD ● 11 tháng năm 2012, tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 104 tỷ USD, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 103,98 tỷ USD. ● Cả nước ước xuất siêu 14 triệu USD trong 11 tháng. Nguồn: Cơ quan thống kê |
Lũy kế 11 tháng năm 2012, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 207,99 tỷ USD. Trong đó, tổng kim ngạch xuất khẩu 11 tháng ước đạt 104 tỷ USD, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm ngoái; tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 103,98 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
Như vậy, 11 tháng năm nay, cả nước ước xuất siêu 14 triệu USD, từ mức xuất siêu 64 triệu USD thực hiện trong 10 tháng trước.
Đáng chú ý, trong số 104 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, thì khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - FDI (không kể dầu thô) chiếm trên 55,6%, tương đương 57,84 tỷ USD.
Một điểm đáng chú ý khác là, tính đến hết tháng 11/2012, có hai nhóm hàng xuất khẩu có kim ngạch vượt 10 tỷ USD, gồm: hàng dệt, may (13,78 tỷ USD), điện thoại các loại và linh kiện (11,4 tỷ USD). Trong khi đó, phía nhập khẩu cũng có hai nhóm đạt kim ngạch vượt 10 tỷ USD, gồm: điện tử, máy tính và linh kiện (12 tỷ USD); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác (14,64 tỷ USD).
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phát triển công nghiệp hàng hải theo tư duy hệ sinh thái, có trọng tâm, nâng cao năng lực tự chủ; không bao cấp trở lại, không đầu tư dàn trải và không để mất năng lực chiến lược.
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Phú Thọ duy trì tăng trưởng trên 11%, giải ngân vốn đầu tư công, phát triển công nghiệp công nghệ cao và xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng trong năm.
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Lào Cai đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế biên mậu, logistics, đẩy nhanh đầu tư công, tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng và tạo đột phá về chuyển đổi số.
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.