Phó
Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 779/QĐ-TTg ngày 2/5/2026,
ban hành Kế hoạch quốc gia phòng, chống các bệnh cúm gia cầm, lở mồm long móng
và dịch tả lợn châu Phi cho giai đoạn 2026 - 2030.
Kế
hoạch hướng tới nâng cao năng lực toàn diện của hệ thống phòng, chống dịch bệnh
động vật, từ quản lý, giám sát, xét nghiệm, cảnh báo sớm, điều tra dịch tễ đến
thực hành an toàn sinh học, tiêm phòng, kiểm dịch và kiểm soát giết mổ.
Trên cơ
sở đó, từng bước hình thành hệ thống phòng, chống dịch bệnh hiện đại, đồng bộ,
đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa
phương hai cấp, góp phần phát triển chăn nuôi bền vững theo định hướng chiến
lược đã được phê duyệt.
Một
trong những yêu cầu trọng tâm là chủ động phát hiện sớm, cảnh báo và ứng phó
kịp thời với các ổ dịch, qua đó giảm thiểu tác động tiêu cực đến sản xuất chăn
nuôi, sức khỏe cộng đồng, an toàn thực phẩm, môi trường và hoạt động thương
mại.
Về
chỉ tiêu cụ thể, Kế hoạch đặt mục tiêu giảm tối thiểu 30% số ổ dịch Cúm gia cầm
so với bình quân giai đoạn 2019 - 2025; giảm tối thiểu 30% số ổ dịch Lở mồm
long móng và số gia súc buộc phải tiêu hủy so với bình quân giai đoạn 2021 - 2025;
đồng thời giảm tối thiểu 30% số ổ dịch và số lợn buộc phải tiêu hủy do dịch tả
lợn châu Phi so với bình quân giai đoạn 2020 - 2025.
Các
mục tiêu này được xác định ở cấp quốc gia, làm cơ sở để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cụ thể
hóa thành mục tiêu, chỉ tiêu và kế hoạch triển khai phù hợp với điều kiện thực
tế. Việc xây dựng kế hoạch tại địa phương phải căn cứ vào nguy cơ dịch bệnh,
quy mô và cơ cấu đàn vật nuôi, điều kiện chăn nuôi, giết mổ, lưu thông động vật
và sản phẩm động vật, cũng như khả năng bảo đảm nguồn lực.
Mục tiêu, chỉ tiêu của Kế hoạch quốc gia được xác định là khung ở cấp quốc gia, làm căn cứ để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng và tổ chức triển khai tại địa phương.
Trên cơ sở điều kiện thực tế, nguy cơ dịch bệnh, quy mô và cơ cấu đàn vật nuôi, điều kiện chăn nuôi, giết mổ, lưu thông động vật và sản phẩm động vật, cũng như khả năng bảo đảm nguồn lực, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định mục tiêu, chỉ tiêu, địa bàn ưu tiên, lộ trình và giải pháp thực hiện cho giai đoạn 2026 - 2030 và hằng năm. Việc triển khai phải bảo đảm giảm số ổ dịch, số động vật mắc bệnh, chết, buộc phải tiêu hủy và nâng cao tỷ lệ tiêm phòng, góp phần hoàn thành mục tiêu chung của Kế hoạch, đồng thời chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện trên địa bàn.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện quản lý nhà nước thông qua hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, tổng hợp và đánh giá việc triển khai Kế hoạch.
Đáng chú ý, Kế
hoạch xác định 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, gồm: Hoàn thiện thể chế;
chăn nuôi an toàn sinh học; phòng bệnh bằng vaccine; giám sát dịch bệnh; xử lý
ổ dịch; kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y; xây
dựng cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh; chẩn đoán, xét nghiệm, nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ; tuyên truyền, nâng cao nhận thức; và hợp tác quốc tế.
Trong đó, chăn nuôi an toàn sinh học được triển khai theo chuỗi giá trị, phù
hợp từng loại vật nuôi, quy mô và điều kiện địa phương; ưu tiên tại cơ sở chăn
nuôi tập trung, khu vực nguy cơ cao, địa bàn giáp biên giới, nơi có hoạt động
vận chuyển, buôn bán lớn, cơ sở giết mổ, chợ động vật sống và vùng từng xảy ra
dịch bệnh.
Kế hoạch yêu cầu lồng ghép, sử dụng hiệu quả các chính sách hỗ trợ nhằm nâng
cao hiệu quả chăn nuôi, bao gồm tiêu chí an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh,
xử lý chất thải và công trình khí sinh học, phù hợp khả năng cân đối ngân sách
địa phương.
Các cơ sở chăn nuôi phải kê khai, quản lý theo quy định và áp dụng biện pháp
an toàn sinh học phù hợp từng quy mô. Nông hộ tập trung quản lý con giống, thức
ăn, vệ sinh, tiêu độc, xử lý chất thải, kiểm soát ra vào và khai báo khi có dấu
hiệu bất thường; trang trại thực hiện thêm cách ly, kiểm soát trung gian truyền
bệnh, truy xuất nguồn gốc và quản lý nội bộ.
Công tác vệ sinh, tiêu độc, khử trùng được thực hiện định kỳ, đột xuất tại
cơ sở chăn nuôi, điểm tập kết, chợ, cơ sở giết mổ, phương tiện vận chuyển và
địa bàn nguy cơ cao; không đưa ra khỏi cơ sở có hoặc nghi có dịch các vật phẩm
chưa được xử lý theo quy định.
Việc tiêm phòng vaccine được tổ chức trên cơ sở đánh giá nguy cơ, đặc điểm
dịch tễ và hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành; thực hiện theo đợt, tiêm bổ sung
và giám sát sau tiêm phù hợp từng địa phương.
Đối với dịch tả lợn châu Phi,
việc lựa chọn vaccine căn cứ kết quả giám sát lưu hành vi rút và quy định
chuyên ngành; tiêm phòng được triển khai đồng bộ với các biện pháp kiểm soát
dịch bệnh.