Thứ nhất, người đang có việc làm và thuộc đối tượng
tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội. Người lao động được xác định
là có việc làm khi thuộc một trong các trường hợp sau: đã giao kết hợp đồng làm
việc, hợp đồng lao động,
kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thoả thuận bằng tên gọi
khác, nhưng có nội dung
thể hiện về việc làm có trả tiền công, tiền lương từ 1 tháng trở lên.
Thứ hai, người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự,
nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, dân quân thường trực. Ngày mà người lao động được xác định
thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, dân quân thường
trực là ngày người lao động nhập ngũ.
Thứ ba, người đanghưởng lương hưu hằng tháng. Ngày mà người lao động được
xác định hưởng lương hưu là ngày đầu tiên tính hưởng lương hưu được ghi trong
văn bản của cơ quan Bảo hiểm xã hội về việc hưởng lương hưu hằng tháng của người
lao động.
Thứ tư, người lao động lần thứ 2 từ chối
việc làm do tổ chức dịch vụ việc làm công nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp giới
thiệu, mà không có lý
do chính đáng.
Người lao động đang hưởng trợ cấp
thất nghiệp từ chối việc làm thuộc một trong các trường hợp sau, được xác định
là không có lý do chính đáng: Người
lao động được tổ chức dịch vụ việc làm công giới thiệu việc làm phù hợp với
ngành, nghề, trình độ được đào tạo hoặc công việc đã từng làm được ghi trong phiếu tư vấn, giới
thiệu việc làm, nhưng
không đến tham gia dự tuyển lao động.
Người lao động đã tham gia dự tuyển lao
động theo giới thiệu của tổ chức dịch vụ việc làm công nơi đang hưởng trợ cấp
thất nghiệp, và được
người sử dụng lao động tuyển dụng nhưng không nhận việc làm đã trúng tuyển, trừ
trường hợp việc làm đó không đúng như thông báo tuyển lao động của người sử dụng
lao động.
Ngày mà người lao động được xác định
bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày của lần thứ 2 mà người lao động
thuộc một trong các trường hợp nêu trên.
Thứ năm, người đang trong thời gian hưởng trợ cấp
thất nghiệp, 3 tháng liên tục không thực hiện thông báo hằng tháng về việc tìm
kiếm việc làm với tổ chức dịch vụ việc làm công theo quy định.
Ngày mà người lao động được xác định
bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày kết thúc của thời hạn thông báo
tìm kiếm việc làm của tháng thứ 3 liên tục, mà người lao động không thực hiện thông báo hằng tháng về việc
tìm kiếm việc làm.
Thứ sáu, người lao động ra nước ngoài để định cư. Ngày mà người lao động được
xác định ra nước ngoài định cư là ngày người lao động xuất cảnh theo quy định của
pháp luật về xuất, nhập cảnh.
Thứ bảy, đi học tập có thời hạn trên 12
tháng. Ngày mà người
lao động được xác định đi học tập có thời hạn trên 12 tháng là ngày nhập học được
ghi trong giấy báo nhập học.
Thứ tám, người lao động đang bị xử phạt vi phạm hành chính về
hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp. Ngày mà người lao động được xác định bị
xử phạt vi phạm hành chính là ngày người lao động bị xử phạt theo quyết định của
cơ quan có thẩm quyền.
Thứ chín, trường hợp người lao động chết. Ngày
xác định người lao động chết là ngày ghi trong giấy chứng tử.
Thứ mười, người đang chấp hành quyết định áp dụng
biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện
bắt buộc.
Ngày mà người lao động được xác định
chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục
bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày bắt đầu thực hiện biện pháp xử lý
hành chính được ghi trong quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Mười một, bị tòa án tuyên bố mất tích. Ngày mà người lao động mất
tích được xác định trong quyết định của tòa án.
Mười hai, bị tạm giam, chấp hành hình phạt
tù. Ngày mà người lao động
được xác định bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù là ngày bắt đầu thực hiện quyết
định tạm giam, chấp hành hình phạt tù của cơ quan có thẩm quyền.
Mười ba, theo đề nghị của người lao động. Ngày mà người lao động bị
chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày người lao động đề nghị với tổ chức dịch
vụ việc làm công.
Nghị định 374/2025/NĐ-CP tiếp tục
kế thừa nguyên tắc cơ bản là mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60%
mức bình quân tiền lương của 6 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp,
nhưng cụ thể hóa và siết chặt hơn một số nội dung quan trọng.
Nghị định làm rõ cách xác định 6
tháng liền kề trong trường hợp có thời gian gián đoạn đóng; khẳng định mức hưởng
tối đa không vượt quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm chấm dứt hợp
đồng lao động.