
Số liệu thống kê 4 tháng đầu năm 2018 của Tổng cục Hải quan cho thấy, lượng quặng và các loại khoáng sản xuất khẩu 4 tháng qua đạt 1,5 triệu tấn, giá trị xuất khẩu đạt hơn 65,5 triệu USD. Bình quân, giá quặng xuất khẩu đạt 988.000 đồng/tấn.
Trong đó, riêng thị trường Trung Quốc, lượng quặng và khoáng sản Việt Nam xuất sang chiếm 80% tổng lượng xuất khẩu, đạt gần 1,2 triệu tấn, kim ngạch hơn 29 triệu USD. Tuy nhiên, giá xuất khẩu trung bình chỉ đạt 560.000 đồng/tấn.
Như vậy, giá trị xuất khẩu của quặng Việt Nam sang Trung Quốc rẻ hơn rất nhiều so với giá xuất khẩu quặng sang các thị trường khác.
Số còn lại hơn 333.000 tấn quặng, khoáng sản được xuất sang các thị trường khác có giá khá cao đạt gần 2,5 triệu đồng/tấn - gấp gần 5 lần so với giá bán quặng và khoáng sản cho Trung Quốc.
Chẳng hạn, so với thị trường Hàn Quốc, kim ngạch xuất khẩu quặng và khoáng sản khác 4 tháng qua đạt 13.482 tấn, trị giá 3,4 triệu USD. Bình quân mỗi tấn trị giá 5,8 triệu đồng. Cao gấp 10 lần so với giá bán cho Trung Quốc.
Cùng kỳ năm 2017, lượng quặng và khoáng sản xuất khẩu của Việt Nam cũng đạt 1,4 triệu tấn, kim ngạch đạt 59 triệu USD. Số hàng xuất sang Trung Quốc cũng đạt trên 1,1 triệu tấn, chiếm gần 80% tổng lượng bán ra của Việt Nam.
Thời gian qua, Chính phủ cấm bán ra nước ngoài nhiều loại khoảng sản, trong đó có những loại quặng sắt, nhôm và titan... Dù vậy, một số doanh nghiệp vẫn được cấp phép xuất khẩu khoáng sản bằng cách chế biến theo chiều sâu, có giá trị gia tăng cao hơn so với xuất khẩu quặng, khoáng sản tiền chế, thô sơ.
Với giá bán sang thị trường Trung Quốc rẻ đặt ra dấu hỏi về chất lượng sản phẩm quặng, khoảng sản xuất khẩu đã được doanh nghiệp chế biến sâu hay chỉ ở dạng thô, gây thất thoát tài nguyên và trục lợi chính sách.
Chỉ dẫn địa lý không chỉ là “tấm vé thông hành” khẳng định uy tín sản phẩm, mà còn là công cụ nâng cao giá trị đặc sản địa phương. Tuy nhiên, để chuyển hóa lợi thế pháp lý này thành giá trị thương mại bền vững, các địa phương và doanh nghiệp cần vượt qua nhiều điểm nghẽn trong tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và xúc tiến thị trường...
Việc xây dựng Nghị quyết về FTZ và ILZ tại TP. Hồ Chí Minh được kỳ vọng tạo thêm động lực cho thương mại, logistics và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, cộng đồng doanh nghiệp cho rằng cơ chế mới phải thực sự khác biệt, linh hoạt và có khả năng triển khai nhanh, nếu không FTZ khó tạo ra giá trị mới...
Xuất khẩu cà phê Việt Nam đang đứng trước bài toán nâng giá trị thay vì chỉ gia tăng sản lượng. Với lợi thế lớn về Robusta, việc kiểm soát chất lượng từ vùng nguyên liệu, phân hóa sản phẩm và đổi mới phương thức thu mua được xem là những yêu cầu then chốt để nâng giá trị hạt cà phê...
Thương mại điện tử đang giúp doanh nghiệp Việt tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng toàn cầu, trong khi AI, dữ liệu lớn và các nền tảng số có thể làm thay đổi cách xúc tiến thương mại. Tuy nhiên, công nghệ không xóa bỏ những rào cản căn bản của xuất khẩu. Để hàng Việt đi xa, cần kết nối dữ liệu thị trường, tiêu chuẩn, logistics, nền tảng số và nhà mua hàng thành một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp...
Xuất khẩu phân bón Việt Nam bứt phá mạnh mẽ cả về lượng lẫn giá trị, trong khi nhập khẩu giảm sâu, khẳng định năng lực sản xuất nội địa được nâng cao. Tận dụng tốt nhu cầu quốc tế, các doanh nghiệp đang đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như urê, NPK, DAP để mở rộng thị trường và gia tăng kim ngạch...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Theo kết quả chấm điểm về giải ngân vốn đầu tư công tháng 8/2026 do Bộ Tài chính vừa công bố, Thanh Hóa nằm trong tốp các tỉnh, thành phố có tốc độ giải ngân đầu tư công rất tốt, xếp thứ 17 trong số 34 tỉnh, thành phố về giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; xếp thứ 12 về giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 được phép kéo dài sang năm 2026. Kết quả này tiếp tục cho thấy sự chuyển động tích cực trong tổ chức thực hiện, đồng thời tạo thêm động lực để tỉnh khơi thông nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ các dự án, đưa nguồn vốn đầu tư thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội.