Những con số tổn thất và hệ lụy này đã được chỉ ra trong nghiên cứu công bố tại Hội thảo tham vấn “Đánh giá cơ sở tình hình ô nhiễm chất thải nhựa trong ngành du lịch Việt Nam” do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) phối hợp cùng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức ngày 6/2/2026.
Hội thảo chia sẻ các phát hiện chính từ báo cáo nghiên cứu đánh giá cơ sở về hiện trạng phát sinh, quản lý và tác động của chất thải nhựa trong ngành du lịch. Nghiên cứu áp dụng khung phân tích DPSIR và Phân tích dòng vật chất (MFA), kết hợp khảo sát định lượng với 258 doanh nghiệp và 216 du khách, cùng kiểm toán chất thải nhựa chi tiết tại Ninh Bình và Đà Nẵng. Thông quan đó đề xuất các giải pháp phù hợp với bối cảnh quốc gia và điều kiện cụ thể của một số địa phương thúc đẩy du lịch xanh, tuần hoàn gắn với quản lý hiệu quả chất thải nhựa hướng tới phát triển bền vững.
Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026- 2030, du lịch được xác định là trụ cột kinh tế quan trọng.
Tuy nhiên, sự tăng trưởng nhanh của ngành cũng đang tạo ra áp lực ngày càng lớn lên môi trường, đặc biệt ô nhiễm chất thải nhựa.
Theo các nghiên cứu gần đây, mỗi khách du lịch có thể tạo ra hàng nghìn túi nilon và hơn một nghìn chai nhựa hoặc bao bì dùng một lần mỗi năm. Điều này đang tạo ra các “điểm nóng” về ô nhiễm tại nhiều điểm đến, gây áp lực lớn lên hệ thống xử lý chất thải và ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm du khách cũng như thương hiệu du lịch Việt Nam.
Theo kết quả nghiên cứu tại các đô thị du lịch biển như Đà Nẵng, khách lưu trú phát thải chất thải nhựa gấp hơn 2 lần so với khách tại các điểm du lịch sinh thái như Ninh Bình (0,27 kg/ngày so với 0.12kg/ngày). Du khách là nguồn phát thải chính, với lượng chất thải nhựa cao gấp 1,7-3 lần so với người dân địa phương.
Hành vi tiêu dùng cũng góp phần đáng kể vào thực trạng này. Tại Ninh Bình, 72% du khách sử dụng nhiều hơn 03 chai nhựa/ngày. Trong khi đó, 95% doanh nghiệp tại Ninh Bình và 81,6% tại Đà Nẵng vẫn cung cấp nhựa dùng một lần cho du khách, dù mức độ nhận thức về tác hại môi trường của chất thải nhựa là rất cao.
Kết quả kiểm toán chất thải nhựa cũng chỉ ra rằng mỗi năm nhóm sản phẩm nhựa phổ biến nhất bao gồm: chai nhựa PET, túi ni-lông và hộp xốp, chiếm hơn 90% tổng lượng chất thải nhựa tại các điểm đến và khu vực lưu trú.
Cụ thể, tại Đà Nẵng, núi ni-lông và nhựa dùng một lần (SUPs) chiếm tỷ trọng cao nhất (23,7%) trong tổng lượng chất thải nhựa, cao hơn chai nhựa PET. Tại Ninh Bình, chai nhựa PET lại chiếm tỷ trọng cao nhất (38%), phản ánh thói quen sử dụng nước đóng chai khi di chuyển và tham quan các điểm di sản.
Điểm nổi bật của nghiên cứu là việc định lượng “Chi phí của việc không hành động” (Cost of Inaction – COI), cho thấy ô nhiễm chất thải nhựa không chỉ là vấn đề môi trường, mà còn dẫn tới hệ quả tổn thất lớn về kinh tế.
Tại Đà Nẵng, tổng COI ước tính lên tới 1.743,7 tỷ đồng mỗi năm, trong đó thiệt hại kinh tế chiếm hơn 44% (khoảng 772 tỷ đồng) từ chi phí thu gom, xử lý chất thải và bảo trì cơ sở hạ tầng.
Tại Ninh Bình, tổng COI ước tính là 606,7 tỷ đồng mỗi năm. Dù thiệt hại kinh tế trực tiếp thấp hơn, nguy cơ rò rỉ chất thải nhựa tại các khu vực di sản và sông nước là rất lớn, với hơn 146 tấn chất thải nhựa thất thoát ra môi trường mỗi năm. Đáng chú ý, 93,8% trong tổng COI của tỉnh là tổn thất thương hiệu điểm đến, phản ánh nguy cơ du khách có thể “không trở lại” do ấn tượng tiêu cực về môi trường.
Trong bối cảnh toàn cầu, du lịch xanh và du lịch có trách nhiệm đang trở thành tiêu chuẩn mới. Các chuyên gia nhấn mạnh rằng việc giảm thiểu rác thải nhựa vì vậy không chỉ là yêu cầu môi trường, mà còn là lợi thế cạnh tranh chiến lược cho ngành du lịch Việt Nam.
Theo ông Hà Văn Siêu, Phó Cục trưởng Cục du lịch Quốc gia Việt Nam, ô nhiễm rác thải nhựa không chỉ ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường sinh thái, đa dạng sinh học mà còn tác động trực tiếp đến chất lượng điểm đến, trải nghiệm của du khách và năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong dài hạn.
Giảm thiểu rác thải nhựa không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu tất yếu trong tiến trình phát triển du lịch bền vững, xanh và có trách nhiệm.
Nhận thức rõ điều đó, thời gian qua Việt Nam đã đưa vấn đề giảm thiểu rác thải nhựa vào các định hướng chiến lược và kế hoạch hành động của quốc gia, kết hợp giữa quản lý bền vững, chiến lược thích ứng khí hậu và hỗ trợ chính sách đồng bộ.
Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, tập trung vào việc xanh hóa nền kinh tế, phát triển năng lượng tái tạo, áp dụng kinh tế tuần hoàn, và huy động tài chính xanh để đạt mục tiêu Net Zero vào năm 2050.
Qua phân tích “chi phí của việc không hành động”, báo cáo chỉ rõ yêu cầu cần có sự chuyển đổi mang tính chủ động và hệ thống trong ngành du lịch. Ông Vũ Thái Trường, Trưởng Ban Biến đổi khí hậu, Năng lượng và Môi trường, UNDP Việt Nam cho rằng "đầu tư cho các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm chất thải nhựa không nên được nhìn nhận như một chi phí gia tăng, mà là khoản đầu tư chiến lược giúp bảo vệ sức cạnh tranh, hình ảnh và lợi ích kinh tế dài hạn của các điểm đến, các doanh nghiệp du lịch”.
Từ dữ liệu thực tế, ông Trường khuyến nghị cách tiếp cận cần chuyển dịch từ xử lý chất thải nhựa sau thải bỏ mang tính bị động, sang giảm thiểu tại nguồn, với sự tham gia chủ động từ khu vực tư nhân thông qua các cơ chế đầu tư và tài chính phù hợp cho những mô hình kinh doanh du lịch đổi mới sáng tạo, thay thế dần sản phẩm nhựa dùng một lần, hướng tới phát triển bền vững.”
Trong thời gian tới, UNDP cam kết tiếp tục đồng hành cùng Chính phủ Việt Nam và các đối tác thông qua các hoạt động tập trung hỗ trợ hoàn thiện chính sách thúc đẩy du lịch xanh, du lịch sinh thái ven biển thông qua dự án Cộng đồng ven biển thông minh (VNCSCC), tài trợ bởi Chính Phủ Canada, phối hợp cùng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, các sở Nông nghiệp và môi trường tại Huế, Cần Thơ và Gia Lai.
"Đầu tư cho các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm chất thải nhựa không nên được nhìn nhận như một chi phí gia tăng, mà là khoản đầu tư chiến lược giúp bảo vệ sức cạnh tranh, hình ảnh và lợi ích kinh tế dài hạn của các điểm đến, các doanh nghiệp du lịch”.
Bên cạnh đó sẽ tăng cường hệ thống dữ liệu và giám sát chất thải nhựa; phát triển và nhân rộng các mô hình kinh tế tuần hoàn trong du lịch với sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp
Tại hội thảo, các chuyên gia cùng thảo luận về giải pháp thực tiễn, tập trung vào ba nhóm: chính sách, hạ tầng và doanh nghiệp.
Về chính sách, các ý kiến cho rằng cần lồng ghép mục tiêu giảm ô nhiễm chất thải nhựa vào các tiêu chí đánh giá chất lượng du lịch và hệ thống xếp hạng cơ sở lưu trú, gắn với các tiêu chí của “Nhãn du lịch xanh”.
Về hạ tầng, cần triển khai đồng bộ phân loại chất thải rắn tại nguồn, đầu tư hạ tầng thu gom riêng cho chất thải nhựa tại các điểm đến du lịch, tăng cường thu gom tại các “điểm nóng” rò rỉ nhựa như khu vực ven sông và ven biển.
Về doanh nghiệp, cần thúc đẩy một số mô hình thay thế nhựa dùng một lần, một cách có lộ trình, tại các cơ sở lưu trú và điểm đến có tỷ trọng phát sinh chất thải nhựa lớn.
Từ góc độ cơ quan quản lý, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam cam kết sẽ lắng nghe, tiếp thu các kết quả nghiên cứu, ý kiến tham vấn và khuyến nghị được đưa ra, làm cơ sở cho việc hoàn thiện chính sách, định hướng phát triển sản phẩm, cũng như tăng cường phối hợp liên ngành nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh trong ngành du lịch. Đây là chiến lược mang lại lợi ích kép: vừa bảo vệ cộng đồng, vừa nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch quốc gia, vừa giữ vững giá trị thương hiệu du lịch Việt Nam”.
Hà Nội đang làm sống lại các dòng sông khi phục hồi 4 sông nội đô gồm: Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ, Sét…
Cà Mau và Hà Lan kỳ vọng mở rộng hợp tác trong phát triển ngành tôm bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và thu hút đầu tư vào các dự án xanh tại địa phương...
Nhu cầu điện tăng mạnh do quá trình điện khí hóa và sự bùng nổ của AI đang thúc đẩy cuộc đua phát triển công nghệ nhiệt hạch. Trong khi Mỹ và Trung Quốc dẫn đầu về đầu tư, bốn startup của Đức đang tận dụng lợi thế về nghiên cứu và công nghiệp để cạnh tranh trong lĩnh vực được kỳ vọng sẽ định hình tương lai ngành năng lượng...
Việt Nam và Hà Lan tiếp tục thúc đẩy hợp tác về nông nghiệp, quản lý nước và ứng phó biến đổi khí hậu nhằm hướng tới phát triển bền vững...
Giai đoạn 2026 - 2028, Hà Nội sẽ rà soát, đánh giá các khu, cụm công nghiệp đang hoạt động và xây dựng đề án chuyển đổi, đăng ký, chứng nhận khu, cụm công nghiệp sinh thái. Giai đoạn 2029 - 2045, triển khai đồng bộ các giải pháp theo đề án đã được phê duyệt; phấn đấu hoàn thành chuyển đổi các khu, cụm công nghiệp đang hoạt động sang mô hình sinh thái vào năm 2045…
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, xung đột vũ trang tại Trung Đông kéo dài tác động tiêu cực đến chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa, chi phí vận tải và thương mại quốc tế... GDP sáu tháng đầu năm 2026 của nước ta vẫn tăng tới 8,18%. Khu vực 2 là động lực chính cho GDP đạt con số trên.