12:16 18/07/2008

Các giải pháp chống Đôla hóa

TS. Nguyễn Đại Lai

Làm thế nào để chống tình trạng Đô la hóa? Dưới đây là góc nhìn của một chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng

Đưa hoạt động thu đổi ngoại tệ vào nề nếp.
Đưa hoạt động thu đổi ngoại tệ vào nề nếp.
Từ năm 2000 đến nay, cơ chế điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước chủ yếu được công bố theo tín hiệu thị trường.

Đó là việc lấy mức tỷ giá bình quân hình thành trên thị trườngngoại tệ liên ngân hàng tại thời điểm đóng cửa ngày làm việc hôm trướcđể công bố cho ngày mở cửa hôm sau và "cộng, trừ" một biên độ hẹp chocác ngân hàng thương mại kinh doanh.

Tuy nhiên, do nền kinh tế Việt Nam trong 10 năm qua phát triển khá ổnđịnh, nên cơ bản tỷ giá VND/USD "được neo" tự nhiên và ổn định vào đồngUSD là đồng tiền chiếm 90% doanh số thanh toán xuất - nhập khẩu.

"Vũ điệu" tỷ giá sụt - trồi - đứng - tăng mạnh

Riêng năm 2007 do có làn sóng ngoại tệ tràn vào tăng đột biến nên chodù đã được Ngân hàng Nhà nước can thiệp rất mạnh song tỷ giá vẫn giảmtrong suốt cả năm 2007 (tỷ giá chỉ tăng dưới 1% so với lạm phát 2007 là12,63%), sau đó gần 3 tháng đầu năm 2008 tiếp tục giảm, giá trị đồngUSD đã có lúc chạm tới con số 15.300đ/USD trên thị trường tự do.

Nhưng từ tuần cuối tháng 3 đến hết tháng 4/2008, đồng USD đã lại tănggiá đột ngột trở lại, sau đó ổn định tạm thời xung quanh 16.200 đồng/USDrồi từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 7/2008 lại tăng mạnh, đặc biệt trongtuần giữa tháng 6/2008 có ngày tăng rất mạnh lên trên 19.500 đồng/USD,nhưng 10 ngày tháng 7/2008 trở lại đây, tỷ giá lại dần trở về trạngthái bình thường xung quanh 16.800 đồng/USD. Đây là những dấu hiệu bất ổn.

Nội hàm của sự bất ổn này nếu loại trừ những nhân tố khách quan tácđộng từ nước ngoài, thì có 3 nguyên nhân chính từ phía chính sách quảnlý ngoại hối còn lỏng lẻo.

Thứ nhất, do tình trạng Đô la hoá trên thị trường tài chính Việt Nam cònkhá phổ biến trên tất cả các chức năng tiền tệ, đặc biệt là chức năngphương tiện thanh toán, trao đổi và chức năng tín dụng qua ngân hàngthương mại... đã tạo môi trường cho các hoạt động đầu cơ mỗi khi xuấthiện những biến động về ngoại tệ.

Thứ hai, nhập siêu 6 tháng đầu năm 2008 đã lên tới trên 14 tỷ USD (chủyếu rơi vào 4 tháng đầu năm), cao kỷ lục từ trước đến nay.

Thứ ba, không ngoại trừ có một lượng nội tệ nằm tại các quĩ đầu tư vàtại các quĩ tiền mặt của các chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoàitại Việt Nam đã mua vào khá nhiều Đôla để chuyển đổi tiền tệ, tạo tâmlý bất ổn để đầu cơ tiền tệ ngay trên thị trường tiền tệ Việt Nam cùngvới những hành vi vi phạm của một số đại lý thu đổi ngoại tệ cho cácngân hàng thương mại đã tự ý găm ngoại tệ để đầu cơ không bán lại chongân hàng theo cam kết...

Ngoài ra còn một số lý do gián tiếp khác là các tín hiệu phát ra từ nền kinh tế đầu tầu thế giới là Mỹ rất biến động.

Đề xuất giải pháp quản lý ngoại hối

Vì vậy, về giải pháp chính sách về quản lý ngoại hối nói chung và về điều hành tỷ giá nói riêng, xin đề xuất như sau:

Về quan điểm chính sách, cần đối xử với Đôla như đối xử với một loạihàng hoá nhập khẩu hơn là đối xử như với một liên minh tiền tệ lẫn lộncác chức năng với nội tệ trên thị trường tài chính trong nước. Khôngnên "cố" neo tỷ giá vào đồng USD, cần phải để thị trường ngoại hối phánquyết sức mua đã "tụt dốc" rất lớn của đồng USD so với hầu hết các đồngtiền quốc gia khác trên thị trường quốc tế.

Trong khi giá cả đồng USD trên thị trường tiền tệ quốc tế và lãi suấttrong chính nước Mỹ giảm thì tại Việt Nam lãi suất huy động và cho vayđồng USD lại có xu hướng gia tăng. Điều đó chứng tỏ cơ chế quản lýngoại hối là có vấn đề mà chỉ có Việt Nam mới gặp phải.

Lý do là nhiều nước trên thế giới không cho phép có hoạt động tín dụngngoại tệ, đặc biệt là loại tín dụng ngoại tệ ngắn hạn. Nhiều nước cũngcó luật cấm nghiêm ngặt việc thanh toán hàng hoá, dịch vụ trong nội địabằng ngoại tệ.

Hiện nay, ở nhiều ngân hàng thương mại nước ta đã có dấu hiệu nghịch lývề đồng USD, biểu hiện qua hiện tượng: "thiếu tiền, thừa vốn". Do lãisuất huy động ngoại tệ tăng, cùng với tỷ giá có xu hướng tăng và đứng ởmức cao nên lượng "tiền gửi ngoại tệ" tăng, trong lúc tiền mặt ngoại tệđể "mua đứt bán đoạn" lại hiếm.

Tại Việt Nam tình trạng Đô la hoá rất cao, nên khi lạm phát bùng nổ thìngoại tệ "lên ngôi" ngay cả khi chính nó đang bị mất giá rất mạnh ở"quê hương" của nó và ở khắp các nền kinh tế công nghiệp phát triển,trong khi tại Việt Nam một số không ít cửa hàng, khách sạn cao cấp lạingang nhiên niêm yết giá, thu tiền bán hàng bằng Đô la và từ chối thanhtoán bằng nội tệ!

Do đó, cần sử dụng cơ chế mua đứt bán đoạn thay cho cơ chế tín dụngngoại tệ... Cùng với việc chuyển này, cần phải tạo cơ chế cho pháttriển mạnh thị truờng ngoại hối kèm theo việc kiểm soát chặt các hoạtđộng Đô la hoá, trong đó bao gồm cả việc cho phát triển mạnh các giaodịch phái sinh ngoại hối để các bên tham gia thị trường tự bảo vệ truớcnhững biến động rủi ro về tỷ giá. Phải tuân theo nguyên tắc: "Trên lãnhthổ Việt Nam chỉ tiêu VND".

Cần ban hành ngay văn bản qui phạm pháp luật về việc thanh tra, kiểmsoát mọi hành vi vi phạm việc sử dụng đồng ngoại tệ trong thanh toántrao đổi hàng hoá, dịch vụ trên lãnh thổ Việt Nam.

Về thái độ chính sách, phải coi tỷ giá là một phạm trù giá cả trên thịtrường ngoại hối để làm phương tiện chuyển đổi quyền sở hữu tiền tệtheo qui luật của nó. Mọi nguồn dự trữ ngoại hối quốc gia phải đượcthống nhất quản lý, lưu giữ tại Ngân hàng Trung ương.

Nếu có lộ trình đủ hợp lý triển khai các nội dung đề xuất nói trên,người viết bài tin tưởng rằng thị trường ngoại tệ Việt Nam sẽ dần đivào ổn định và quan hệ tỷ giá sẽ vận động đúng theo quan hệ cung - cầutheo thị trường xuất nhập khẩu và cán cân thanh toán quốc tế thực củaViệt Nam.

* Tác giả bài viết là Phó vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước.