Ngày 20/9, hội thảo với chủ đề: “Khung pháp lý về Trung tâm Tài chính quốc tế (IFC): Kinh nghiệm nước ngoài và tham khảo cho TP.HCM” đã diễn ra tại TP.HCM với sự tham dự của nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế trong lĩnh vực tài chính và pháp lý.
Đây là hội thảo khoa học quốc tế do Báo Pháp luật Việt Nam, Trường Đại học Luật TP.HCM (ULAW), Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố (HIDS) phối hợp tổ chức nhằm thảo luận về các vấn đề như định vị, chiến lược phát triển, mô hình tổ chức và quản lý, cách giải quyết tranh chấp, khung pháp lý huy động vốn… cho Trung tâm Tài chính quốc tế.
Sự kiện không chỉ đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hình thành Trung tâm Tài chính tại TP.HCM mà còn mở ra nhiều cơ hội phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam.
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu nhấn mạnh Nghị quyết 222/2025/QH15 về Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1/9 đã mở ra khung pháp lý quan trọng cho việc hình thành Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam. Thủ tướng cũng đã có những chỉ đạo để từng bước xây dựng và hình thành tại TP.HCM và Đà Nẵng. Trong đó, TP.HCM với vai trò là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, đang nỗ lực triển khai các bước cần thiết để xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu nhấn mạnh rằng việc hình thành Trung tâm Tài chính quốc tế không chỉ đơn thuần là một dự án phát triển kinh tế mà còn là một chiến lược dài hạn nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính quốc tế. Để đạt được điều này, TP.HCM cần có một khung pháp lý hoàn chỉnh, nguồn nhân lực chất lượng cao và kinh nghiệm quốc tế.
Chia sẻ tại hội thảo, TS. Lê Trường Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TP.HCM, cho rằng Trung tâm Tài chính quốc tế không chỉ là nơi huy động và phân bổ vốn mà còn là động lực cho đổi mới sáng tạo và quản trị rủi ro. Ông nhấn mạnh rằng TP.HCM hoàn toàn có thể trở thành một Trung tâm Tài chính quốc tế nếu có chiến lược đúng đắn và khung pháp lý phù hợp. Các mô hình thành công từ các trung tâm tài chính quốc tế như Singapore, Dubai và Hong Kong sẽ là những bài học quý giá cho Việt Nam.
Ông Richard D. McClellan, Phó Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam, đã đề xuất áp dụng cơ chế ba bên, bao gồm trung tâm tài chính quốc tế, tòa án quốc tế và các cơ quan trong nước, nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Ông khẳng định sự minh bạch và nhất quán trong chính sách là điều cần thiết để xây dựng lòng tin với các nhà đầu tư. Điều này không chỉ giúp thu hút vốn đầu tư nước ngoài mà còn tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước.
Một trong những thách thức lớn nhất mà TP.HCM phải đối mặt là việc xây dựng cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ông Olivier Vigna, Phó Tổng giám đốc điều hành Paris Europlace, đã chỉ ra rằng tính hấp dẫn của Trung tâm Tài chính quốc tế phụ thuộc vào quy mô thị trường tiêu dùng và sự phát triển của nền kinh tế. Việt Nam cần có các chính sách thu hút nguồn vốn lâu dài và quản lý tài sản hiệu quả để tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn.
Tại hội thảo, GS.TS. Lê Hồng Hạnh, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), khuyến nghị khung pháp lý cần bao gồm mô hình quản trị phù hợp, luật áp dụng rõ ràng và cơ chế giải quyết tranh chấp minh bạch. Kinh nghiệm từ Dubai và Astana cho thấy các trung tâm này đều có quyền ban hành luật riêng và có hệ thống pháp luật đặc thù tách biệt với quốc gia, điều này giúp họ thu hút được nhiều nhà đầu tư quốc tế.
Ngoài ra, việc xây dựng Trung tâm Tài chính tại TP.HCM không chỉ là một dự án phát triển kinh tế mà còn là một cơ hội để Việt Nam khẳng định vị thế của mình trên bản đồ tài chính thế giới. Tuy nhiên, để đạt được điều này, TP.HCM cần phải chuẩn bị từ sớm về cơ chế và nguồn nhân lực, không nên chờ đến sát thời điểm vận hành mới bắt đầu. Việc xây dựng một Trung tâm Tài chính quốc tế đòi hỏi sự đầu tư lớn về trí tuệ và đổi mới sáng tạo, cũng như việc tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ, việc hình thành Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP.HCM sẽ không chỉ giúp Việt Nam thu hút vốn đầu tư nước ngoài mà còn tạo ra động lực cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Các chuyên gia đều đồng tình rằng, nếu TP.HCM có thể xây dựng được một khung pháp lý đồng bộ, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế, thì việc trở thành một trung tâm tài chính quốc tế hiện đại là hoàn toàn khả thi.
Việc thiết lập quan hệ thành phố hữu nghị giữa thành phố Huế và thành phố Shizuoka, Nhật Bản được kỳ vọng mở rộng cơ hội hợp tác trong kinh tế, đầu tư, du lịch, phát triển nguồn nhân lực và công nghệ xanh, qua đó tạo thêm động lực cho Huế trong quá trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững.
Năm 2026, TP. Hồ Chí Minh quyết tâm đạt tăng trưởng GRDP cả năm trên 10%, phấn đấu quý III đạt từ 11,07% và quý IV đạt từ 12,3%. Đồng thời, Thành phố phấn đấu huy động trên 1,2 triệu tỷ đồng vốn đầu tư phát triển và thu ngân sách đạt mốc 1 triệu tỷ đồng…
Đà Nẵng đang chuẩn bị kế hoạch tăng cường hợp tác chiến lược với các đối tác châu Âu giai đoạn 2026-2030 tập trung vào 5 lĩnh vực chiến lược quan trọng…
Với mạng lưới 88 địa phương kết nghĩa trên thế giới sau hợp nhất, TP. Hồ Chí Minh kỳ vọng Đối thoại Hữu nghị lần thứ 3 năm 2026 sẽ trở thành không gian thúc đẩy các hợp tác, kết nối mới về đầu tư, đổi mới sáng tạo, logistics, cảng biển và phát triển bền vững...
Đề xuất di dời đoạn đường sắt Ga Hà Nội - Ngọc Hồi để phục vụ mở rộng Quốc lộ 1A đặt ra bài toán không chỉ về mặt bằng, mà còn về năng lực vận tải, khả năng kết nối và vai trò của các đầu mối trong mạng lưới đường sắt tương lai...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.