Chiến lược thu hút FDI vào Việt Nam: Chuyển từ thu hút sang lựa chọn chiến lược

TS. Phan Hữu Thắng (*)

13/05/2026, 13:12

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc, sự dịch chuyển nhanh chóng của công nghệ và những biến động địa chính trị ngày càng khó lường, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội hiếm có để nâng cấp mô hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tuy nhiên trong thời điểm này, những giới hạn của cách tiếp cận cũ đang bộc lộ rõ hơn bao giờ hết...

Ảnh minh hoạ.
Ảnh minh hoạ.

Thực tế cho thấy dù dòng vốn FDI vẫn duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, nhưng giá trị gia tăng tạo ra chưa cao, liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước còn yếu và lợi thế cạnh tranh vẫn chủ yếu dựa vào vị trí địa lý. Điều đó đồng nghĩa với việc Việt Nam vẫn đang đứng ở phần “đáy” của chuỗi giá trị toàn cầu, nơi biên lợi nhuận thấp và khả năng lan tỏa công nghệ còn hạn chế.

TỪ “THU HÚT BẰNG MỌI GIÁ” ĐẾN “ÁP LỰC PHẢI LỰA CHỌN”

Nếu nhìn vào giai đoạn 2021-2025, thời kỳ phục hồi sau đại dịch Covid-19 và ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh thế giới biến động, bức tranh FDI có nhiều điểm sáng. Vốn FDI thực hiện tăng từ 19,7 tỷ USD năm 2019 lên 27,6 tỷ USD năm 2025, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư Việt Nam vẫn được duy trì.

Tuy vậy, sau gần 40 năm thu hút và quản lý FDI (1987-2025), dù “thành công là chủ yếu”, Việt Nam đã đến lúc cần chuyển đổi chiến lược. Trọng tâm không còn là thu hút FDI theo số lượng mà là lựa chọn các dự án chất lượng, có khả năng lan tỏa tới toàn bộ nền kinh tế.

Để thực hiện định hướng này, cần tập trung vào một số nội dung trọng yếu: đột phá thể chế nhằm xây dựng niềm tin chính sách; thu hút FDI có chọn lọc theo các ngành chiến lược; nâng cấp đồng bộ hạ tầng, đặc biệt là năng lượng và hạ tầng số; phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước; đồng thời thúc đẩy FDI theo hướng xanh và gắn với đổi mới sáng tạo.

Nếu các giải pháp được triển khai đồng bộ, với điều kiện tiên quyết là “sử dụng FDI nhưng bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, gắn với quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội” theo tinh thần Nghị quyết 50-NQ/TW ngày 20/8/2019, thì FDI sẽ tiếp tục là nguồn lực quan trọng cho Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay đặt ra nhiều thách thức. Trước hết là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong thu hút FDI trên phạm vi toàn cầu, khi nhiều quốc gia đồng thời điều chỉnh chính sách để giành lợi thế. Bên cạnh đó là xu hướng dịch chuyển đầu tư theo nhóm các quốc gia “thân thiện” hoặc có vị trí địa lý gần (friend-shoring, near-shoring), khiến dòng vốn có xu hướng tập trung hơn và có chọn lọc hơn. Đồng thời, áp lực chuyển đổi xanh và yêu cầu tiếp nhận, làm chủ công nghệ cao cũng ngày càng lớn, đòi hỏi Việt Nam không chỉ thu hút được vốn mà còn phải nâng cao năng lực hấp thụ.

Từ đó, việc thu hút “FDI thế hệ mới” cần được định hướng rõ ràng hơn, gắn với đầu tư xanh, công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Kinh nghiệm từ Singapore và Hàn Quốc cho thấy thành công đến từ chiến lược nhất quán. Singapore dựa trên thể chế minh bạch để thu hút FDI công nghệ cao, còn Hàn Quốc gắn chặt FDI với doanh nghiệp nội địa để hình thành các tập đoàn lớn. Nhờ vậy, họ không chỉ gia tăng quy mô FDI mà còn tận dụng hiệu quả dòng vốn để thúc đẩy xuất khẩu và hình thành các trung tâm sản xuất có vị thế. Đây cũng là những kinh nghiệm đáng tham khảo để Việt Nam định hình lại chiến lược thu hút và sử dụng FDI trong thời gian tới.

Mặc dù những hạn chế trong thu hút và sử dụng FDI của Việt Nam đã được nhận diện qua nhiều lần tổng kết, song đến nay vẫn chưa được khắc phục triệt để. Chất lượng FDI chưa cao, phần lớn vẫn tập trung vào các khâu gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp. Mối liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu, thể hiện ở tỷ lệ nội địa hóa thấp và việc chuyển giao công nghệ còn hạn chế. Bên cạnh đó, áp lực đối với môi trường ngày càng lớn khi đã xuất hiện một số dự án gây ô nhiễm nghiêm trọng, đồng thời vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro trong tương lai.

Về thủ tục hành chính, dù quy định đã tương đối rõ ràng, nhưng trong thực tế vẫn còn tình trạng kéo dài, cho thấy cơ chế “một cửa” trong quản lý FDI ở cả cấp bộ và địa phương chưa được vận hành hiệu quả. Việc xin ý kiến giữa các cơ quan quản lý nhà nước đối với những vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp FDI còn chậm, làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai và mở rộng sản xuất, từ đó tạo ấn tượng chưa tích cực đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam.

KHÔNG ĐỔI CÁCH QUẢN LÝ, KHÔNG THỂ CÓ FDI THẾ HỆ MỚI 

Trong bối cảnh hiện nay, khi công nghiệp hỗ trợ còn yếu, nhân lực chưa đáp ứng và hạ tầng còn hạn chế, những tồn tại trong thủ tục hành chính đang trở thành điểm nghẽn đáng lo ngại. Nếu không xử lý dứt điểm, các yếu tố này sẽ làm suy giảm sức cạnh tranh của môi trường đầu tư, nhất là khi Việt Nam cần thu hút FDI thế hệ mới gắn với công nghệ cao và phát triển xanh.

Toàn cầu cũng tác động mạnh đến dòng vốn FDI, với sự tái cấu trúc chuỗi cung ứng dưới áp lực địa chính trị phức tạp, khó dự báo. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư bước sang giai đoạn mới, xoay quanh AI, bán dẫn, tự động hóa, đồng thời đặt ra yêu cầu cao về đầu tư xanh, Net Zero và tiêu chuẩn ESG (môi trường, xã hội, quản trị). Trong khi đó, cạnh tranh thu hút FDI giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, buộc các nền kinh tế phải liên tục nâng cấp môi trường đầu tư.

TS. Phan Hữu Thắng, Nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính).
TS. Phan Hữu Thắng, Nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính).

"Sau gần 40 năm thu hút và quản lý FDI (1987-2025), dù “thành công là chủ yếu”, Việt Nam đã đến lúc cần chuyển đổi chiến lược. Trọng tâm không còn là thu hút FDI theo số lượng mà là lựa chọn các dự án chất lượng, có khả năng lan tỏa tới toàn bộ nền kinh tế".

Trong điều kiện đó, Việt Nam cần tiếp tục nâng cao sức cạnh tranh môi trường đầu tư, khi FDI vẫn là nguồn vốn quan trọng cho tăng trưởng. Tuy nhiên, để tận dụng hiệu quả và lâu dài, cần xác định rõ mục tiêu chiến lược và đổi mới phương thức quản lý. Quan điểm xuyên suốt là FDI là động lực quan trọng nhưng không thay thế nội lực, đồng thời chuyển từ thu hút theo số lượng sang ưu tiên chất lượng, gắn với đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.

Theo đó, đến năm 2030, trọng tâm là nâng cao chất lượng FDI và tăng tỷ lệ nội địa hóa; giai đoạn 2035–2045 hướng tới đưa Việt Nam trở thành trung tâm công nghệ khu vực, với FDI chuyển mạnh sang R&D và đổi mới sáng tạo.

Để hiện thực hóa, cần triển khai đồng bộ các giải pháp: đột phá thể chế gắn với ổn định chính sách và bảo vệ nhà đầu tư; cải cách thủ tục hành chính theo hướng số hóa, rút ngắn thời gian cấp phép và xử lý phát sinh, tiến tới quản trị dựa trên dữ liệu. Đồng thời, thu hút FDI có chọn lọc vào các ngành ưu tiên như bán dẫn, AI, năng lượng tái tạo và công nghiệp hỗ trợ, với tiêu chí rõ ràng về công nghệ, ESG và liên kết nội địa.

Hạ tầng tiếp tục là một trụ cột quan trọng, với trọng tâm là phát triển đồng bộ hạ tầng giao thông, bảo đảm an ninh năng lượng và đẩy mạnh hạ tầng số như 5G, trung tâm dữ liệu. Cùng với đó, cần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thông qua đào tạo gắn với nhu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo và thu hút nhân tài quốc tế.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh liên kết FDI với doanh nghiệp trong nước thông qua phát triển công nghiệp hỗ trợ, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích nội địa hóa và hình thành doanh nghiệp dẫn dắt. Chính sách ưu đãi cũng cần đổi mới theo hướng hỗ trợ R&D, đổi mới sáng tạo, thay vì chỉ dựa vào ưu đãi thuế, đồng thời thúc đẩy FDI xanh theo tiêu chuẩn ESG và giảm phát thải carbon.

Trên nền tảng các giải pháp đó, lộ trình thực hiện được xác định theo ba giai đoạn: 2025-2030 tập trung hoàn thiện thể chế và thu hút FDI công nghệ cao; 2031-2035 nâng cấp vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu; 2036-2045 hình thành, vận hành hiệu quả các trung tâm đổi mới sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế phát triển.

Các kiến nghị mang tính đột phá  cho thấy yêu cầu cấp thiết là phải thay đổi cách tiếp cận trong quản lý và thu hút FDI. Trước hết, cần triển khai thực chất cơ chế “một cửa” nhằm rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao tính minh bạch. Đây không chỉ là cải cách hành chính mà còn là yếu tố cạnh tranh trực tiếp trong thu hút dòng vốn FDI xanh, công nghệ cao. Đây là nhóm nhà đầu tư đòi hỏi cao về tốc độ và tính ổn định chính sách.

Cùng với đó, việc xây dựng mới và từng bước chuyển đổi các khu công nghiệp hiện có sang mô hình “khu công nghiệp sinh thái” là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển bền vững. Mô hình này giúp tối ưu sử dụng tài nguyên, giảm phát thải, bảo vệ môi trường, đồng thời tạo lợi thế cạnh tranh trong thu hút FDI chất lượng cao, nhất là khi tiêu chuẩn ESG ngày càng trở thành “tấm vé bắt buộc” của dòng vốn toàn cầu.

Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt quan trọng, chuyển từ “thu hút FDI” sang “quản trị và lựa chọn FDI”. Nếu thực hiện hiệu quả, đến năm 2030 nền kinh tế có thể được nâng cấp rõ rệt; đến năm 2045, mục tiêu trở thành quốc gia phát triển sẽ có cơ sở vững chắc hơn, không chỉ về quy mô mà cả về chất lượng tăng trưởng và năng lực nội tại.

(*) Nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nay là Bộ Tài chính)

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18 +19-2026 phát hành ngày 11/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm

VnEconomy

Đọc thêm

Dòng sự kiện

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Giá vàng trong nước và thế giới

Giá vàng trong nước và thế giới

VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.

Bài viết mới nhất

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.

Bài viết mới nhất

Trợ lý thông tin kinh tế Askonomy - Asko Platform

Trợ lý thông tin kinh tế Askonomy - Asko Platform

Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...

Bài viết mới nhất

15 nền tảng mạng xã hội có nhiều người dùng nhất thế giới, Meta có 3 đại diện

15 nền tảng mạng xã hội có nhiều người dùng nhất thế giới, Meta có 3 đại diện

Dự trữ dầu của Trung Quốc lớn hơn tổng dự trữ của Mỹ, Nhật Bản và nhiều nước lớn

Dự trữ dầu của Trung Quốc lớn hơn tổng dự trữ của Mỹ, Nhật Bản và nhiều nước lớn

Tiềm năng từ điện hạt nhân quy mô nhỏ

Tiềm năng từ điện hạt nhân quy mô nhỏ

Asko AI Platform

Askonomy AI

...

icon

Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?

Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính:

VnEconomy