Chính phủ ra nghị định về quản lý rủi ro nợ công

Chính phủ quyết tâm đảm bảo khả năng trả nợ trong trung hạn và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ công, giảm thiểu những thiệt hại có thể xảy ra

Theo Kiểm toán Nhà nước, dư nợ công cuối năm 2018 dự kiến ở mức khoảng 63,9% GDP.
Theo Kiểm toán Nhà nước, dư nợ công cuối năm 2018 dự kiến ở mức khoảng 63,9% GDP.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 94/2018/NĐ-CP về nghiệp vụ quản lý nợ công, trong đó, quy định về quản lý rủi ro đối với nợ công nhằm mục tiêu quản lý rủi ro nhằm đảm bảo cơ cấu nợ công hợp lý, phù hợp với mục tiêu, định hướng đặt ra trong kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm đã được Quốc hội quyết định.

Theo đó, cùng với mục tiêu trên, với nghị định này, Chính phủ quyết tâm đảm bảo khả năng trả nợ trong trung hạn và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ công; giảm thiểu những thiệt hại có thể xảy ra trong tình huống xấu nhất với chi phí phát sinh hợp lý.

Làm phát sinh rủi ro nợ công phải bồi thường

Về nguyên tắc xử lý rủi ro, việc xem xét xử lý rủi ro được thực hiện cho từng trường hợp cụ thể căn cứ vào mức độ tổn thất có thể xảy ra và nguyên nhân dẫn đến rủi ro; việc phòng ngừa và xử lý rủi ro phải căn cứ vào thoả thuận vay hoặc công cụ nợ gốc trong danh mục nợ công hiện hành, nguyên nhân phát sinh rủi ro, phù hợp với quy định pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Việc phòng ngừa rủi ro đối với danh mục nợ công phải thực hiện phù hợp với kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm, chương trình quản lý nợ công 3 năm và kế hoạch vay, trả nợ hằng năm; tổ chức, cá nhân sử dụng vốn vay sai mục đích, cố ý làm trái quy định làm phát sinh rủi ro nợ công phải chịu trách nhiệm xử lý và bồi thường theo quy định của pháp luật.

Rủi ro đối với nợ công bao gồm: Rủi ro về lãi suất, tỷ giá ngoại tệ do biến động trên thị trường tài chính; rủi ro thanh khoản do thiếu các tài sản tài chính có tính thanh khoản để thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ nợ đến hạn theo cam kết, bao gồm khả năng trả nợ của ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương; rủi ro do biến động thị trường tài chính ảnh hưởng đến việc huy động vốn dẫn đến phải đảo nợ với chi phí cao hoặc mất khả năng đảo nợ; rủi ro tín dụng do đối tượng được vay lại, đối tượng được bảo lãnh không trả được nợ đầy đủ, đúng hạn; các loại rủi ro khác có thể ảnh hưởng đến an toàn nợ công.

Việc quản lý rủi ro tín dụng của đối tượng được vay lại, đối tượng được bảo lãnh Chính phủ thực hiện theo quy định tại nghị định của Chính phủ về cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ; Nghị định của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ.

Bộ Tài chính đánh giá rủi ro nợ công

Nghị định nêu rõ nội dung chủ yếu của việc đánh giá rủi ro gồm: Phân tích tình hình kinh tế vĩ mô, tài khóa, tiền tệ, tỷ giá, lãi suất và biến động của thị trường vốn trong nước và quốc tế có tác động đến nợ công; phân tích, đánh giá diễn biến về cơ cấu đồng tiền, lãi suất, kỳ hạn, quy mô, nghĩa vụ trả nợ công, hiện tại và xu hướng tương lai nhằm nhận diện mức độ rủi ro để có biện pháp xử lý rủi ro phù hợp; tính toán mức độ rủi ro, dự kiến chi phí phòng ngừa và xử lý rủi ro trong trường hợp rủi ro xảy ra.

Bộ Tài chính có trách nhiệm đánh giá rủi ro đối với nợ công, bao gồm nợ Chính phủ, nợ chính quyền địa phương và nợ được Chính phủ bảo lãnh; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đánh giá rủi ro đối với nợ của chính quyền địa phương, bao gồm vay lại vốn vay ODA và vay ưu đãi của Chính phủ, trái phiếu của chính quyền địa phương và các khoản nợ khác của chính quyền địa phương.

Việc đánh giá rủi ro được thực hiện định kỳ gắn với kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm, chương trình quản lý nợ công 3 năm và kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm. Trên cơ sở đánh giá rủi ro, Bộ Tài chính đề xuất các giải pháp để phòng ngừa rủi ro đối với nợ công; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất các giải pháp để phòng ngừa rủi ro đối với nợ của chính quyền địa phương.

Nghị định cũng quy định các biện pháp phòng ngừa và xử lý rủi ro.

Cụ thể, đối với phòng ngừa và xử lý rủi ro về lãi suất và tỷ giá ngoại, sử dụng các công cụ phái sinh về lãi suất và đồng tiền.  

Đối với việc phòng ngừa và xử lý rủi ro thanh khoản gồm: bố trí nguồn trả nợ đầy đủ, đúng hạn theo quy định tại Điều 54 Luật Quản lý nợ công; phát hành công cụ nợ để đảm bảo thanh khoản; cơ cấu lại kỳ hạn của các khoản nợ, mua lại nợ, hoán đổi khoản nợ hoặc đàm phán gia hạn nợ.

Đối với phòng ngừa và xử lý rủi ro do biến động thị trường tài chính gồm: phát triển thị trường vốn trong nước; nâng cao hệ số tín nhiệm quốc gia để tiếp cận thị trường vốn quốc tế.

Căn cứ vào đánh giá rủi ro và mức độ ảnh hưởng của rủi ro đối với từng khoản nợ hoặc với danh mục nợ, Bộ Tài chính xây dựng đề án cơ cấu lại nợ, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định và tổ chức thực hiện; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định phương án cơ cấu lại nợ của chính quyền địa phương và tổ chức thực hiện.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, ước tính tỷ lệ nợ công của Việt Nam so với GDP đến hết tháng 4/2018 là khoảng 55,9%. Trong đó, nợ Chính phủ so với GDP khoảng 47,5%; nợ được bảo lãnh Chính phủ so với GDP khoảng 7,9%; nợ chính quyền địa phương so với GDP khoảng 0,5%.

Về khoản tiền trả nợ vay của Chính phủ trong 4 tháng đầu năm, Bộ Tài chính cho biết đã trả 76.158 tỷ đồng. Trong đó, số tiền trả nợ vay trong nước 59.383,5 tỷ đồng, trả nợ vay nước ngoài 16.774,2 tỷ đồng.

Theo báo cáo của Kiểm toán Nhà nước chuyên đề về kiểm toán nợ công, dự kiến năm 2018, nhu cầu vay bù đắp bội chi ngân sách Trung ương là 195.000 tỷ đồng, vay mới để trả nợ gốc là 146.770 tỷ đồng và vay nước ngoài về cho vay lại khoảng 40.000 tỷ đồng. Dư nợ công cuối năm 2018 dự kiến ở mức khoảng 63,9% GDP, dư nợ Chính phủ ở mức khoảng 52,5% GDP và dư nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 47,6% GDP, nằm trong giới hạn cho phép (dưới 50%).

Chuyển mạnh sang hậu kiểm để đơn giản hóa cấp mã số vùng trồng

Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP do Chính phủ ban hành ngày 31/7/2026 được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển quan trọng trong công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói khi chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang tự kê khai, hậu kiểm, qua đó rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục và giảm đáng kể gánh nặng hành chính cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp...

Phát triển xuất bản trở thành ngành công nghiệp văn hóa

Trọng tâm của dự thảo luật là khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò và nguyên tắc hoạt động xuất bản trong giai đoạn phát triển mới. Xuất bản không chỉ thuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng mà còn là ngành kinh tế - công nghệ, bộ phận quan trọng của công nghiệp văn hóa, hạ tầng tri thức quốc gia, công cụ chủ đạo của giáo dục, đào tạo và phát huy sức mạnh mềm quốc gia.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiến trúc, đáp ứng thực tiễn và yêu cầu phát triển

Để ngăn chặn nguy cơ tham nhũng, trục lợi chính sách, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc cần bổ sung quy định công khai dữ liệu, quy định bắt buộc lấy ý kiến cộng đồng và yêu cầu giải trình chặt chẽ đối với mọi quyết định làm thay đổi chỉ tiêu kiến trúc…

Sửa đồng bộ ba luật trong lĩnh vực ngân hàng: siết rửa tiền, giảm lệ thuộc tín dụng

Việc sửa đổi đồng thời ba luật trong lĩnh vực ngân hàng được đặt ra trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý ngày càng cấp thiết. Dự thảo luật tập trung siết chặt phòng, chống rửa tiền theo chuẩn mực quốc tế, đồng thời tháo gỡ điểm nghẽn cơ chế, tạo nền tảng giảm dần sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng…

Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy