Bộ Tư pháp đang thẩm định hồ sơ dự thảo Nghị
định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Dân số do Bộ Y tế xây dựng.
Theo dự thảo, Bộ Y tế đề xuất mức hỗ trợ tài chính
khi sinh con đối với phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người; phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới
mức sinh thay thế; phụ nữ sinh đủ 2
con trước 35 tuổi, tối
thiểu là 2.000.000 đồng/trường hợp.
Góp ý vào dự thảo, nhiều đơn vị đề xuất mức hỗ
trợ này cần xác lập theo mức lương cơ sở hoặc lương tối thiểu vùng,
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho rằng, dự thảo Nghị định
mức hỗ trợ tài chính khi sinh con 2.000.000
đồng/người/1 lần sinh còn chung chung, chưa công bằng giữa các đối
tượng, chưa phản ánh sự khác biệt giữa các đối tượng thụ hưởng theo quy định tại Luật Dân số, nhất là đối tượng phụ nữ dân tộc thiểu
số rất ít người, cần cân nhắc đến điều kiện sinh sống đặc biệt khó khăn, khả
năng tiếp cận dịch vụ y tế và chi phí phát sinh.
Đối với phụ nữ tại các địa bàn có mức
sinh thấp, cần nghiên cứu về yếu tố đô thị hóa, chi phí nuôi con và áp lực kinh
tế. Còn đối với phụ nữ
sinh đủ 2 con trước 35 tuổi, cần xem xét sự khác biệt về điều kiện việc làm,
thu nhập và khả năng cân bằng giữa sinh con và tham gia thị trường lao động.
Ngoài ra, các yếu tố như nơi sinh
sống, điều kiện kinh tế hộ gia đình, mức độ tiếp cận an sinh xã hội… cũng tạo
ra sự khác biệt trong cùng một nhóm đối tượng.
Do đó, việc áp dụng một mức hỗ trợ
gắn với các tiêu chí cụ thể để bảo
đảm tính công bằng và hiệu quả của chính sách, đồng thời việc quy định mức hỗ
trợ chung là chưa thực sự phù hợp.
Cần nghiên cứu theo hướng phân tầng mức hỗ trợ gắn với các tiêu
chí cụ thể để bảo đảm tính công bằng và hiệu quả của chính sách. Đồng thời, việc quy định mức hỗ trợ cụ thể tiềm ẩn
nguy cơ trượt giá theo thời gian, làm giảm ý nghĩa thực tế của chính sách.
Trên cơ sở đó, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị cơ quan
chủ chỉ soạn thảo cân nhắc quy định theo hướng phân loại đối tượng thụ hưởng và
mức hỗ trợ tương ứng, có thể gắn với tiêu chí về điều kiện kinh tế, khu vực cư
trú hoặc mục tiêu chính sách dân số; xem xét cơ chế điều chỉnh linh hoạt theo biến động giá cả, thay
vì quy định một mức hỗ trợ cố định.
Về mức hỗ trợ tài chính khi sinh, Bộ Khoa học và
Công nghệ cũng đề nghị quy định theo nguyên tắc hoặc theo hệ số (gắn với
mức lương cơ sở), thay
vì quy định mức tiền cụ thể; đồng thời bổ sung căn cứ xác định mức hỗ trợ vì cần bảo đảm tính ổn định của chính
sách khi có biến động kinh tế - xã hội.
Cơ quan này cũng đề nghị bổ sung nguyên
tắc việc địa phương quy định mức hỗ trợ cao hơn phải phù hợp khả năng cân đối
ngân sách, và không làm
phát sinh chênh lệch lớn giữa các địa phương vì cần bảo đảm tính thống nhất của
hệ thống chính sách.
Góp ý vào dự thảo, Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt Nam đánh giá,
xu hướng giảm sinh đang là một thách thức đối với Việt Nam. Bên cạnh
đó, mức sống ngày càng cao. Do đó, cân nhắc không để mức hỗ trợ bằng con số cố
định mà nên áp dụng theo mức lương tối thiểu vùng. Hoặc hỗ trợ theo các gói dịch
vụ về y tế, giáo dục.
Còn theo Chi cục Dân số tỉnh Vĩnh Long, mức hỗ trợ 2 triệu đồng/người/lần
sinh còn thấp, chưa có sự phân hóa theo vùng, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, đơn vị này kiến nghị định khung mức
hỗ trợ (tối thiểu - tối đa) để địa phương chủ động quyết định phù hợp khả năng
ngân sách. Cùng với đó, xem
xét ưu tiên mức hỗ trợ cao hơn đối với địa bàn có mức sinh thấp kéo dài hoặc
khu vực đô thị.
Phản hồi trước các đề xuất, Bộ Y tế - cơ quan chủ trì soạn thảo lý giải,
đề xuất mức hỗ trợ cụ thể trên cơ sở đánh giá tác động thực hiện quy định
này trong quá trình xây dựng Luật Dân số.
Đồng thời tại Luật Dân số cũng đã quy định, căn cứ điều
kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, Chính phủ quy định mức hỗ trợ và
trình tự, thủ tục thực hiện việc hỗ trợ. Căn cứ khả năng cân đối ngân sách nhà
nước, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chính quyền địa phương cấp tỉnh
quy định mức hỗ trợ cao
hơn mức hỗ trợ do Chính phủ quy định.