Tại Nghị định số 374/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm
về bảo hiểm thất nghiệp, lần đầu
tiên cơ quan quản lý nhà nước thiết lập cơ chế hỗ trợ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp từ ngân sách nhà nước
với nguyên tắc cụ thể.
ĐẢM BẢO TÍNH ỔN ĐỊNH, LÂU DÀI CỦA QUỸ
Theo đó, ngân sách nhà nước có thể hỗ trợ tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng
đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm
thất nghiệp. Quy định này nhằm bảo đảm
duy trì số dư quỹ hằng năm bằng 2 lần tổng các khoản chi các chế độ bảo hiểm
thất nghiệp, và chi
tổ chức và hoạt động bảo hiểm thất nghiệp của năm trước liền kề.
Theo bà Vũ Thị Thanh Liễu,
Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội (thuộc Sở Nội vụ), quy định yêu cầu số dư Quỹ bảo hiểm thất nghiệp bằng ít nhất 2 lần tổng chi chế độ và chi phí của năm trước
được xem là một chuẩn mực tài chính mới.
Về ý
nghĩa, trước hết quy định này giúp đảm bảo tính ổn định lâu dài của quỹ, tăng
khả năng chống chịu trước các biến cố như thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng
kinh tế. Thực tế, trong
giai đoạn Covid-19, cho thấy khi có nguồn quỹ đủ lớn, việc chi trả hỗ trợ
cho người lao động được thực hiện kịp thời và trên diện rộng.
Bên cạnh đó, việc duy trì mức kết dư như vậy
giúp giảm áp lực chi trả, tránh tình trạng bị động khi nhu cầu hưởng tăng đột
biến. Khi quỹ luôn có nguồn dự phòng đủ lớn, việc chi trả trở nên chủ động, ổn
định hơn.
"Quy định
này cũng góp phần tăng niềm tin của người lao động đối với chính sách. Khi biết
quỹ có khả năng đảm bảo chi trả ngay cả trong những tình huống khó khăn, người
lao động sẽ yên tâm tham gia và tin tưởng vào quyền lợi của mình", bà Liễu phân tích.
Ở góc độ
quản lý, đây cũng là một chuẩn mực nhằm đảm bảo tính minh bạch, tránh tình trạng
sử dụng quỹ thiếu kiểm soát, hạn chế nguy cơ thâm hụt hoặc phải bổ sung đột xuất,
từ đó giảm tác động bất lợi đến cả doanh nghiệp và người lao động.
“Có thể xem ý nghĩa của quy định là cách tiếp cận
tương tự cơ chế dự trữ bắt buộc trong lĩnh vực ngân hàng, nhằm đảm bảo an toàn
cho hệ thống chi trả. Xét về
tác động tổng thể, đối với người lao động, quyền lợi được đảm bảo ngay cả trong
những tình huống khủng hoảng, giúp họ yên tâm rằng sẽ được chi trả kịp thời khi
mất việc”, Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội Vũ Thị Thanh Liễu, nhấn mạnh.
Đối với
doanh nghiệp, cơ chế này tạo sự ổn định, nhờ có sự chia sẻ từ ngân sách nhà nước,
tránh áp lực phải đóng bổ sung đột ngột khi đang gặp khó khăn. Còn Nhà nước tiếp
tục thể hiện vai trò là “bảo trợ cuối cùng” trong chính sách bảo hiểm thất nghiệp,
góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
THỜI GIAN ĐÓNG ĐƯỢC BẢO LƯU KHI NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA CHƯA HƯỞNG CHẾ ĐỘ
Theo ông Trần Tuấn Tú, Trưởng phòng Bảo hiểm
thất nghiệp, Cục Việc làm (Bộ Nội vụ), khi xây
dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp vừa mang tính ngắn
hạn, vừa mang tính dài hạn.
Tính ngắn
hạn thể hiện ở chỗ tương tự một số loại bảo hiểm như bảo hiểm y tế hoặc bảo hiểm
rủi ro, người tham gia đóng theo từng thời điểm, nếu không phát sinh sự kiện bảo
hiểm thì quyền lợi không được sử dụng ngay trong thời gian đó.
Về tính dài hạn, người lao động có thể
tham gia trong suốt quá trình làm việc, dù chưa hưởng nhưng thời gian đóng vẫn
được bảo lưu. Khi phát sinh rủi ro mất việc, họ vẫn được hưởng quyền lợi dựa
trên toàn bộ quá trình đã tham gia.
Quỹ bảo
hiểm thất nghiệp được hình thành từ sự đóng góp của người lao động, người sử dụng
lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước trong những điều kiện nhất định. Đồng thời,
pháp luật cũng quy định cơ chế hỗ trợ từ ngân sách trong trường hợp quỹ không đảm
bảo mức kết dư tối thiểu, qua đó thể hiện vai trò của Nhà nước.
Bên cạnh
đó, Nhà nước cũng thực hiện chức năng bảo hộ đối với quỹ. Vì vậy, về nguyên tắc,
không đặt ra nguy cơ “vỡ quỹ”, mà nếu có thì là nguy cơ mất cân đối thu - chi, khi đó sẽ được điều chỉnh bằng các công cụ chính sách phù hợp.
Theo ông Tú, quy định về đảm bảo mức kết dư quỹ nhằm giúp người lao động và người sử dụng
lao động yên tâm, sẵn sàng được chi trả khi phát sinh rủi ro. Nhà nước cũng có cơ sở để chủ động triển khai các chính sách hỗ trợ cần thiết khi có sự cố.
Người
tham gia đóng góp không phải để chắc chắn hưởng ngay, mà để khi có rủi ro thì
được hỗ trợ, đồng thời cùng chia sẻ trách nhiệm với những người khác trong xã hội.
Chính vì vậy, chính sách này mang tính chất vừa ngắn hạn, vừa dài hạn.
Do đó, cần có những quy định bảo đảm. Nhà nước thực hiện vai trò bảo hộ quỹ, đồng thời, có cơ chế hỗ trợ để duy trì kết dư, đảm bảo khả năng chi trả.