
Phát biểu tại hội thảo “Nghiên cứu khả năng xây dựng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cấp độ vùng ở Vùng Trung du và miền núi phía Bắc trong bối cảnh chuyển đổi số” do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) và Chương trình Cải cách kinh tế vĩ mô/Tăng trưởng xanh (Tổ chức Hợp tác quốc tế CHLB Đức - GIZ) tổ chức ngày 27/10, bà Trần Thị Hồng Minh, Viện trưởng CIEM cho biết vùng Trung du và miền núi phía Bắc là vùng nghèo và khó khăn nhất của cả nước.
Thu nhập bình quân người lao động trong doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất chỉ bằng 82,7% mức trung bình toàn quốc. Số doanh nghiệp đang hoạt động ở vùng tính đến cuối 2021 chỉ chiếm 4,3% tổng số doanh nghiệp cả nước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào vùng cũng rất hạn chế, chỉ bằng 3,4% tổng số dự án FDI của cả nước. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong vùng vẫn ở mức thấp, gần chạm ngưỡng bình quân cả nước (26,1%).
“Dù có rất nhiều nỗ lực và một số tỉnh trong vùng đã đạt những thành quả kinh tế ấn tượng nhưng nhìn chung trình độ phát triển của các địa phương trong vùng ngày càng chênh lệch so với các vùng còn lại của cả nước”, bà Minh nhận định.
Tuy nhiên, Vùng Trung du và miền núi phía Bắc lại có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và có nhiều tiềm năng chưa được khai thác và phát triển xứng tầm. Chính vì vậy, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nói chung và liên kết vùng nói riêng có ý nghĩa chiến lược, đặc biệt quan trọng đối với vùng.
Nếu nhìn vào các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội được xem xét thông qua, ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng Ban Nghiên cứu tổng hợp (CIEM) cho rằng, bước đầu bảo đảm tính khả thi và có thể đo lường, giám sát được về phương pháp và yêu cầu thống kê. Đặc biệt, động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội vùng cũng bước đầu được hình thành.
Song vị chuyên gia cho rằng những bất cập của hệ thống chỉ tiêu cũ liên quan đến Vùng Trung du và miền núi phía Bắc cần tiếp tục được xử lý. Đó là chưa có thể chế trực tiếp sử dụng kết quả theo dõi, đánh giá một số chỉ tiêu cấp vùng một cách định kỳ phục vụ công tác điều hành; phương pháp tính toán thu thập số liệu và gộp từ số liệu cấp địa phương trong vùng lên số liệu cấp vùng còn đang hoàn thiện; quy hoạch định hướng phát triển cho Vùng Trung du và miền núi phía Bắc trên cơ sở tính đặc thù của các địa phương trong vùng còn hạn chế; phân cấp thực hiện chưa rõ ràng, nguồn lực (tài chính, nhân lực) để bảo đảm xây dựng, điều chỉnh và theo dõi, giám sát các chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội ở các địa phương trong vùng còn khó khăn,...
“Bản thân các chỉ tiêu đánh giá phát triển vùng hiện nay vẫn chỉ là cộng gộp từ các địa phương nên chưa đánh giá được hết đặc thù của từng địa phương trong vùng, để từ đó đưa ra chính sách tăng tốc phát triển cho vùng”, ông Dương nhấn mạnh.
Vì vậy, để thúc đẩy liên kết vùng, bà Trần Thị Hồng Minh cho rằng việc tăng cường thu thập, chia sẻ, phân tích dữ liệu vào các hoạt động của đời sống xã hội, chuyển đổi số sẽ giúp chính phủ và cơ quan điều phối phát triển vùng có cái nhìn tổng quát và khả năng theo dõi, đánh giá cập nhật hơn về tình hình phát triển kinh tế theo vùng, thay vì chỉ theo báo cáo tổng hợp của từng địa phương riêng lẻ.
“Chuyển đổi số hướng tới việc quản lý, điều hành của chính quyền Trung ương tới địa phương được tối ưu, minh bạch, kịp thời, đồng thời làm giảm chi phí hành chính của doanh nghiệp, thông qua đó giúp kết nối Chính phủ và doanh nghiệp tốt hơn và kết nối giữa các doanh nghiệp và khách hàng tối ưu hơn. Từ đó, xu hướng liên kết không chỉ mang tính chất nội vùng, liên vùng mà còn mở rộng ra toàn cầu”, Viện trưởng CIEM nhấn mạnh.




Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...
Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu mỗi quy hoạch phát triển địa phương và quy hoạch ngành phải được nhìn trong cấu trúc tổng thể, gắn với tầm nhìn "hướng Đông – tỏa Tây", "trục Bắc – Nam liền dải"...
Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 9 luật về quân sự, quốc phòng, nhiều đại biểu đề nghị duy trì kinh doanh tàu bay không người lái (UAV) là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, đồng thời bảo đảm quản lý chặt nhưng không cản trở ứng dụng công nghệ...
Dự án mở rộng, nâng cấp Cảng hàng không Cà Mau với tổng mức đầu tư gần 2.400 tỷ đồng đang được đẩy nhanh tiến độ để đưa vào khai thác trở lại vào đầu tháng 11/2026…
7 tháng năm 2026, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì sự ổn định với những tín hiệu tích cực từ khu vực sản xuất và đầu tư công. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tăng 18,4% so với cùng kỳ, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11,4%, đánh dấu mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua. Đặc biệt, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân ước đạt 15,20 tỷ USD, thiết lập kỷ lục cao nhất của kỳ 7 tháng trong vòng 5 năm trở lại đây... Trong bối cảnh đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 7 tháng tăng 4,39%, và lạm phát cơ bản được giữ ở mức 4,19%...
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Lương cơ sở chính thức tăng hơn một tháng, kéo theo áp lực giá cả tăng theo. Trong bối cảnh đó, Chính phủ triển khai hàng loạt các chính sách giãn, hoãn, miễn giảm thuế phí nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.