Trong dự báo dân số mới nhất công bố ngày 11/12, Destatis dự báo trong vòng một thập niên tới, cứ 4 người dân Đức thì sẽ
có 1 người trên 67 tuổi.
Đến năm 2038, gần 21 triệu người, tương đương 27% dân
số nước này, sẽ ở độ tuổi hưởng lương hưu. Nhóm từ 80 tuổi trở lên tăng mạnh từ
6,1 triệu người năm 2024 lên khoảng 8,5 - 9,8 triệu vào năm 2050.
Các dự báo trên được đưa ra trong bối cảnh doanh nghiệp tại
quốc gia đông dân nhất Liên minh châu Âu (EU) đối mặt với tình trạng thiếu lao
động chưa từng có, trong khi giới chức phải chật vật ứng phó làn sóng phản đối
người nhập cư.
Đức, cùng với Italy, hiện nằm trong nhóm những nước có dân số
già nhất châu Âu và đang chịu sức ép ngày càng lớn lên tính bền vững của hệ thống
an sinh xã hội.
Tỷ lệ phụ thuộc tại Đức - tức tỷ lệ những người không có khả
năng lao động (người phụ thuộc) trên lực lượng lao động - hiện là 33/100. Đến năm
2070, tỷ lệ này có thể tăng lên 43/100 ở kịch bản “dễ chịu” nhất và lên tới
61/100 ở kịch bản xấu nhất, tức chưa đến 2 người đi làm gánh một người nghỉ
hưu.
“Áp lực lên hệ thống phúc lợi xã hội sẽ rất lớn”, ông
Karsten Lammer, trưởng bộ phận dân số của Destatis, cho biết.
Ông Lammer cho biết trong số 27 kịch bản được Destatis xây dựng,
chỉ có 2 kịch bản dân số Đức tăng lên và cả hai đều giả định số lượng người nhập
cư tăng lên cùng tỷ lệ sinh được cải thiện.
Về lực lượng lao động, Destatis ước tính số người trong độ
tuổi 20-66 tại Đức là khoảng 51,2 triệu trong năm 2024 nhưng sẽ giảm trong mọi kịch bản
từ nay tới năm 2070. Kể cả khi nhập cư ròng ở mức cao, nhóm tuổi lao động vẫn
thu hẹp xuống khoảng 45,3 triệu người vào năm 2070.
Với mức nhập cư trung bình, con số này giảm còn 41,2 triệu.
Còn nếu nhập cư ở mức thấp, lực lượng lao động có thể giảm mạnh xuống 37,1 triệu
người.
“Người nhập cư không đủ để bù đắp cho làn sóng nghỉ hưu của
thế hệ bùng nổ sơ sinh. Do đó, lực lượng lao động suy giảm là xu hướng rất khó đảo
ngược”, báo cáo của Destatis nhấn mạnh.
Thế hệ bùng nổ trẻ sơ sinh (tức baby boomers) là cách gọi thế
hệ sinh ra vào giai đoạn mà số trẻ em được sinh ra tăng vọt so với bình thường
sau Thế chiến II. Ở nhiều nước phương Tây, nhóm này là những người sinh từ cuối
thập niên 1940 đến khoảng giữa thập niên 1960.
Tại Đức, thế hệ bùng nổ trẻ sơ sinh chính là lớp người sinh
ra sau chiến tranh, hiện đang bước vào hoặc sắp bước vào tuổi nghỉ hưu. Khi một
thế hệ đông đảo như vậy cùng rời thị trường lao động, lực lượng lao động sẽ giảm
nhanh chóng do tỷ lệ sinh thấp và người nhập cư không đủ để bù đắp.
Điều này diễn ra trong bối cảnh kinh tế Đức đang suy yếu. Từ
năm 2019, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Đức hầu như không tăng trưởng,
đánh dấu giai đoạn trì trệ kinh tế kéo dài nhất trong lịch sử hậu chiến của nước
này.
Trong báo cáo mùa thu năm 2025, Ủy ban châu Âu (EC) đánh giá kinh tế Đức sẽ
chỉ đạt mức tăng GDP thực chỉ vào khoảng 0,2% trong năm 2025 và 1,2% vào năm
2026-2027. Dù mức tăng trưởng này đã cải thiện rõ rệt so với giai đoạn trước nhưng
không đáp ứng kỳ vọng của nền kinh tế đầu tàu và được xem một “cỗ máy xuất khẩu”
của châu Âu.
Tỷ lệ thất nghiệp dự kiến tăng lên quanh mức 3,6% nhưng thị
trường lao động vẫn trong tình trạng thiếu nhân công có kỹ năng. Khoảng 25%
doanh nghiệp Đức hiện xem tình trạng thiếu lao động là rào cản lớn đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chế tạo, xây dựng
và chăm sóc sức khỏe.