
Chia sẻ tại buổi gặp gỡ báo chí mới đây, ông Matthias Bausenwein, Chủ tịch Ørsted (Công ty năng lượng của Đan Mạch) Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đánh giá cao tiềm năng của Việt Nam trong việc phát triển điện gió ngoài khơi. "Chúng tôi đánh giá đây là một thị trường quan trọng tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và rất hào hứng khi bước chân vào thị trường Việt Nam. Chúng tôi tin rằng năng lượng gió ngoài khơi có khả năng cung cấp nguồn điện cạnh tranh và đáng tin cậy cho người dân cũng như thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền kinh tế", ông nói.
Theo đánh giá của các nhà đầu tư, Việt Nam là quốc gia có những điều kiện tự nhiên tốt nhất Châu Á để phát triển các dự án điện gió ngoài khơi với đường biển dài hơn 3.000km, mực nước biển thấp và tốc độ gió thổi thường xuyên ở mức cao. Đây là những điều kiện tiên quyết quan trọng để phát triển các dự án điện gió ngoài khơi với chi phí thấp và độ tin cậy cao.
Tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam được ước tính nằm trong khoảng từ 160 GW (Cơ quan Năng lượng Đan Mạch) đến gần 500 GW (Ngân hàng Thế giới). Với cơ sở pháp lý phù hợp, Việt Nam có thể tạo ra một ngành công nghiệp sôi động, không chỉ mang lại cơ hội việc làm và tăng trưởng kinh tế mà còn tạo ra sản lượng năng lượng tái tạo lớn và ổn định.
Đối với các tập đoàn đa quốc gia bị ràng buộc bởi các yêu cầu từ nước nhà và đã cam kết hoạt động 100% bằng năng lượng tái tạo thì việc tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo sẽ giúp Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư lớn.
Hơn nữa, điện gió ngoài khơi có thể kích thích hàng trăm ngàn tỷ đồng vốn đầu tư nước ngoài và khởi động một ngành công nghiệp mới năng động tạo ra hàng chục ngàn công việc chất lượng cao trong khi vẫn giúp giảm phát thải.
Để phát huy tiềm năng của năng lượng tái tạo tại Việt Nam, Chính phủ đã đặt ra các mục tiêu rất lớn trong Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia thời kỳ 2021-2030 tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch Điện VIII), trong đó, đặt mục tiêu tăng tỷ trọng điện tái tạo lên mức khoảng 30% vào năm 2030.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Đóng góp quan trọng nhất mà VIFC-HCMC có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế quốc gia không đơn thuần là thu hút thêm dòng vốn, mà trở thành nền tảng đáng tin cậy để dòng vốn khu vực và toàn cầu lưu chuyển qua đó...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ nhằm đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang quản lý bằng dữ liệu và hậu kiểm. Mục tiêu là rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.