Đồng bằng sông Cửu Long tái cấu trúc nông nghiệp dưới áp lực thị trường và khí hậu
AAnh Khuê
Chọn cỡ chữ
Trong nhiều năm, đồng bằng sông Cửu Long được biết đến như “vựa lúa” lớn nhất cả nước, đóng góp hơn 50% sản lượng lúa và trên 90% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào cây lúa đang đứng trước những giới hạn khi hiệu quả kinh tế thấp, tài nguyên suy giảm và tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét...
Trong những năm gần đây, diện tích lúa tại đồng bằng sông Cửu Long có xu hướng giảm, trong khi diện tích nuôi trồng thủy sản và cây ăn trái tăng lên. Ảnh: Hà Văn
Trong bối cảnh đó, quá trình tái cấu trúc nông nghiệp đang
diễn ra với tốc độ nhanh hơn, hướng tới giảm dần diện tích lúa, tăng tỷ trọng
thủy sản và cây ăn trái; đồng thời chuyển sang các mô hình sản xuất bền vững,
thích ứng với điều kiện tự nhiên.
GIẢM LÚA, TĂNG GIÁ TRỊ:
CHUYỂN DỊCH ĐANG RÕ NÉT
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong những
năm gần đây, diện tích lúa tại đồng bằng sông Cửu Long có xu hướng giảm, trong
khi diện tích nuôi trồng thủy sản và cây ăn trái tăng lên.
Riêng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của khu vực đạt
khoảng 9 tỷ USD, tiếp tục giữ vai trò là ngành hàng chủ lực. Ngành trái cây
cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực, với nhiều mặt hàng như sầu riêng, xoài,
chuối mở rộng thị trường xuất khẩu.
Tại các diễn đàn về phát triển nông nghiệp gần đây, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhiều lần nhấn mạnh định hướng chuyển từ “tư duy sản xuất nông nghiệp” sang “tư duy kinh tế nông nghiệp”, trong đó giá trị và hiệu quả được đặt lên hàng đầu thay vì sản lượng.
Một trong những thay đổi dễ nhận thấy là việc nhiều địa
phương chủ động chuyển đổi đất lúa sang các mô hình có giá trị kinh tế cao hơn.
Tại các tỉnh ven biển như Cà Mau (gồm Bạc Liêu cũ), Sóc Trăng cũ (nay là Cần
Thơ), mô hình tôm- lúa đang được mở rộng, vừa tận dụng điều kiện tự nhiên, vừa
giảm rủi ro do xâm nhập mặn.
Ở các vùng nước ngọt, nhiều địa phương như Đồng Tháp, Vĩnh
Long chuyển sang trồng cây ăn trái, kết hợp với phát triển du lịch nông nghiệp.
Mô hình này không chỉ tạo ra giá trị kinh tế cao hơn, mà còn giúp đa dạng hóa
sinh kế cho người dân.
Đặc biệt, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao,
phát thải thấp tại đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 là một bước đi quan trọng.
Theo định hướng, đề án không nhằm mở rộng diện tích, mà tập trung nâng cao chất
lượng, giảm chi phí và giảm phát thải, qua đó gia tăng giá trị trên mỗi đơn vị
diện tích.
Song song đó, các mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP,
GlobalGAP, nông nghiệp hữu cơ cũng được khuyến khích, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày
càng cao của thị trường xuất khẩu. Việc tham gia các hiệp định thương mại tự do
cũng tạo áp lực buộc ngành nông nghiệp phải thay đổi theo hướng minh bạch, bền
vững và truy xuất nguồn gốc.
ÁP LỰC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ YÊU CẦU THÍCH ỨNG
Biến đổi khí hậu đang trở thành yếu tố định hình lại cấu
trúc sản xuất tại đồng bằng sông Cửu Long. Theo đó, tình trạng xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, sụt
lún đất và thiếu nước ngọt không còn là hiện tượng bất thường, mà đang diễn ra
với tần suất ngày càng cao.
Các báo cáo chuyên môn chỉ rõ trong mùa khô những năm gần
đây (2016 - 2024), nhiều khu vực ven biển như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc
Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau ghi nhận độ mặn xâm nhập sâu vào nội đồng, ảnh hưởng trực
tiếp tới sản xuất nông nghiệp. Các địa phương vì vậy buộc phải điều chỉnh lịch
thời vụ, cơ cấu cây trồng và mô hình sản xuất.
Biến đổi khí hậu đang trở thành yếu tố định hình lại cấu trúc sản xuất tại đồng bằng sông Cửu Long. Trong ảnh: Hạn hán tại Ba Tri (Bến Tre cũ, nay là Vĩnh Long). Ảnh: T.B
Trong bối cảnh đó, việc chuyển đổi sang các mô hình thích ứng
như tôm-lúa, nuôi trồng thủy sản nước lợ, hoặc trồng các loại cây chịu mặn đang
trở thành xu hướng tất yếu. Các công trình thủy lợi, kiểm soát mặn, trữ nước ngọt
cũng được đầu tư nhằm hỗ trợ quá trình chuyển đổi.
Tại các hội nghị về phát triển vùng, lãnh đạo Chính phủ nhiều
lần nhấn mạnh yêu cầu phát triển đồng bằng sông Cửu Long theo hướng “thuận
thiên”, tức là thích ứng với điều kiện tự nhiên thay vì cố gắng thay đổi nó.
Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu tái cấu trúc toàn diện, từ quy hoạch, hạ tầng
đến mô hình sản xuất.
Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với tình trạng sụt lún đất, sạt lở bờ sông, bờ biển, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn. Những
vấn đề này có mối quan hệ, tác động qua lại với nhau và đều liên quan đến nguồn
nước.
Đây là vấn đề rất quan trọng, liên quan đến sinh kế, đời sống của người
dân đồng bằng sông Cửu Long, nơi chiếm tới 12,8% diện tích, gần 18% dân số cả
nước, đóng góp 95% sản lượng gạo xuất khẩu, 60% thủy sản, 65% sản lượng trái
cây xuất khẩu của cả nước. Chính vì vậy, các giải pháp “thuận thiên”, thích ứng linh hoạt, hiệu
quả với biến đổi khí hậu tại đồng bằng sông Cửu Long nhiều lần đã được nêu ra.
Có thể thấy, quá trình chuyển đổi nông nghiệp tại đồng bằng sông Cửu Long
không chỉ là điều chỉnh cơ cấu cây trồng, mà là sự thay đổi sâu sắc trong cách
tiếp cận phát triển, gắn với thị trường và điều kiện tự nhiên.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Nguồn nguyên liệu rừng trồng đang phân bổ chưa hợp lý, khi phần lớn gỗ được sử dụng cho sản xuất dăm gỗ và viên nén thay vì phục vụ chế biến sâu có giá trị gia tăng cao. Các doanh nghiệp cho rằng nếu không sớm tổ chức lại thị trường nguyên liệu, ngành gỗ Việt Nam sẽ khó nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững...
Ngân sách nhà nước sẽ dành ít nhất 2% tổng chi hằng năm cho bảo vệ môi trường, bảo đảm giữ vai trò dẫn dắt; đồng thời huy động nguồn lực xã hội, vốn quốc tế, tài chính xanh...
Việc hoàn thiện bản dịch tiếng Việt của Bộ Tiêu chuẩn GRI được kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ dàng tiếp cận các chuẩn mực báo cáo phát triển bền vững quốc tế, qua đó nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và tiếp cận các nguồn vốn xanh…
Việt Nam đang cụ thể hóa con đường hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050 thông qua chiến lược toàn diện “Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp tiên phong”. Tuy nhiên, lộ trình này vẫn đang đối mặt với những khoảng trống lớn về hạ tầng, thách thức nguồn vốn và các rào cản pháp lý cần khơi thông kịp thời để tạo đà bứt phá trong kỷ nguyên vươn mình...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) kết hợp với mạng lưới đường sắt đô thị (metro) là chiến lược cốt lõi để giải quyết ùn tắc và tái cấu trúc không gian. Mô hình này tập...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...