Một số ngân hàng thương mại đã bắt đầu điều chỉnh
lãi suất cho vay
, theo các chính sách khác nhau.
Từ đầu tháng 7/2010, nhiều ngân hàng đã công bố áp chính sách lãi suất cho vay bằng VND chỉ từ 12,5% - 13,5%/năm, theo định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, đây chỉ là ưu đãi chủ yếu dành cho ba nhóm đối tượng: doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn.
Trên thực tế, lãi suất cho vay với phần lớn khách hàng vay vốn, cá cả nhân và doanh nghiệp, vẫn có từ 14% - 16%/năm, cá biệt trên 16%/năm.
Những chuyển động mới
Từ đầu tháng 10 này, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) triển khai một chương trình cho vay mới, kéo dài đến 31/12/2010; trong đó có ưu đãi lãi suất.
Cụ thể, với các cá nhân vay vốn mua bất động sản và vay tiêu dùng thế chấp bằng bất động sản, lãi suất cho vay trong 3 tháng đầu tiên chỉ là 12,99%/năm. Dù chỉ dành cho 3 tháng đầu, nhưng đó là một mức lãi suất hấp dẫn so với “mặt bằng” hiện nay, nhất là đối với các khoản vay tiêu dùng có kỳ hạn ngắn.
Cũng từ đầu tháng 10 này, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á (Nam A Bank) thông báo sẽ dành 1.000 tỷ đồng “tách” riêng với chính sách lãi suất hiện hành để tập trung cho vay phục vụ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước, phục vụ cho hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu…
Cụ thể, theo giới thiệu của Nam A Bank, lãi suất trong gói tín dụng này dành cho doanh nghiệp chỉ khoảng 13%/năm đối với vốn vay bằng VND và chỉ khoảng 5%/năm đối với các khoản vay bằng USD. Đây là những mức lãi suất thấp hơn các mức phố biến trên thị trường từ 1% - 2%/năm.
Trong khi đó, một ngân hàng thương mại tại Tp.HCM cho hay một chính sách cho vay mới cũng đã gần hoàn thiện để bắt đầu triển khai. Điểm nổi bật trong chính sách này là ưu đãi lãi suất.
Lãnh đạo ngân hàng này cho biết, dự kiến lãi suất ưu đãi nhất sẽ thấp hơn 20% so với lãi suất cùng loại tại cùng thời điểm trên thị trường, được áp dụng cho cả khách hàng doanh nghiệp, hộ gia đình và khách hàng cá nhân; trong đó tập trung ưu tiên cho những đối tượng có quan hệ truyền thống, có tài sản thế chấp và đã quan hệ tiền gửi trước đó và hiện nay….
Không phải ngẫu nhiên
Theo báo cáo cập nhật tuần gần nhất từ Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay thông thường bằng VND của các ngân hàng thương mại nhà nước phổ biến từ 13% - 14,5%/năm; của khối ngân hàng thương mại cổ phần có từ 13% - 14,5%/năm.
So với “mặt bằng” đó, chính sách lãi suất mà một số thành viên triển khai nói trên không có điều chỉnh lớn. Nhưng nếu so với riêng tín dụng tiêu dùng, sự điều chỉnh là đáng kể (thực tế nhiều khoản vay của doanh nghiệp và cá nhân vẫn có trên 15%/năm). Mặt khác, đây là một chuyển động đáng chú ý khi lộ trình hạ lãi suất huy động phải đến ngày 15/10 này mới chính thức bắt đầu; và nó không mang tính “ủng hộ”, “hưởng ứng” chủ trương nào đó mà xuất phát từ thực tế vận động của các ngân hàng.
Qua thống nhất thỏa thuận giữa các thành viên, với đầu mối là Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA), từ ngày 15/10 này, lãi suất huy động VND sẽ được xem xét hạ về tối đa 11%/năm, thay cho mức 11,2% phổ biến ở nhiều kỳ hạn hiện nay. Bước điều chỉnh này là rất hẹp, khó có thể tạo một cú hích để các nhà băng hạ mạnh lãi suất cho vay đối ứng.
Thế nhưng, như đề cập ở trên, từ đầu tháng 10, một số thành viên đã hạ lãi suất cho vay cục bộ và có những giới hạn nhất định. Chuyển động này có thể một phần đón đầu thỏa thuận trên có hiệu lực, nhưng nguyên do chính vẫn là từ yêu cầu nội tại của các ngân hàng.
Trước hết, chính sách lãi suất ưu đãi dĩ nhiên là để tiếp thị vốn, lôi kéo khách hàng về phía mình.
Còn thực tế hơn, phó tổng giám đốc một ngân hàng tại Tp.HCM cho biết, qua 9 tháng đầu năm, ngân hàng ông đã hoàn thành 90% kế hoạch tăng trưởng tín dụng cả năm 2010. Ba tháng còn lại, dự tính cần giải ngân tiếp khoảng 6.000 tỷ đồng để xong kế hoạch.
Nhưng vấn đề không hẳn chỉ ở chỉ tiêu và kế hoạch. Thực tế, ngân hàng này vừa có bước tăng vốn mạnh theo yêu cầu vốn pháp định và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) 9% trong Thông tư 13 (có hiệu lực từ 1/10/2010). Với mức vốn tăng nhanh và mạnh trong thời gian ngắn như vậy, lo ngại “béo phì” là một vấn đề đặt ra. Đây là một áp lực buộc ngân hàng phải tìm đầu ra hợp lý cho nguồn năng lượng mới này, khi đã vượt xa các quy định về an toàn; trong đó, đẩy mạnh giải ngân là một hướng lựa chọn.
Ngân hàng đó không phải là trường hợp duy nhất, bởi những tháng cuối năm 2010 thị trường đón nhận loạt ngân hàng dồn dập tăng mạnh vốn điều lệ để đáp ứng yêu cầu về vốn pháp định. Đầu ra của nguồn vốn mới dồn lại như vậy là một bài toán không đơn giản. Trong các bản thuyết minh tăng vốn, dễ thấy các cụm từ “đầu tư cho công nghệ”, “đầu tư hạ tầng”, “mở rộng chi nhánh”, “tăng cường năng lực tài chính” và cũng có cả những dấu ba chấm (…) để ngỏ.
“Anh làm gì mà đầu tư ngay hàng nghìn tỷ đồng cho những khoản đó! Cái để ngỏ quan trọng là sẽ cho vay, đẩy mạnh tín dụng. Và đây là một nguồn vốn thuận lợi”, lãnh đạo một ngân hàng nhận định.
Yếu tố thuận lợi
ở đây gắn với Thông tư 19 của Ngân hàng Nhà nước, sửa đổi Thông tư 13. Một thay đổi ở đây là nguồn vốn tự có, vốn chủ sở hữu của các ngân hàng không chịu ràng buộc bởi tỷ lệ giới hạn cho vay 80% trong Thông tư 13, được Thông tư 19 sửa đổi.
Lãnh đạo một ngân hàng thương mại bình luận rằng, đó là một yếu tố rất thuận lợi khi hàng nghìn tỷ đồng không nằm trong vòng giới hạn đó. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước khi trả lời báo giới về điểm này cũng nhấn mạnh rằng: “ngân hàng thương mại có quyền sử dụng tới 50% vốn điều lệ cho mua sắm, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ kinh doanh, còn 50% còn lại được phép hoạt động tín dụng vì đó là vốn của họ”.
Tất nhiên, các mối quan hệ giữa sự thuận lợi của nguồn vốn, áp lực của nó trong sử dụng với lãi suất cho vay trên thị trường còn tùy thuộc ở những yếu tố khác. Và lãi suất cho vay thời gian tới vẫn được các chuyên gia và người trong cuộc nhận định là khó có thể giảm nhanh, mà cần có lộ trình.




Trong 6 tháng cuối năm 2026, tỷ giá USD/VND đứng trước nhiều sức ép đan xen từ bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Đồng USD vẫn có cơ sở duy trì sức mạnh tương đối nhờ mặt bằng lãi suất Mỹ cao, rủi ro địa chính trị và giá năng lượng, trong khi nhu cầu ngoại tệ trong nước tiếp tục ở mức lớn. Tuy vậy, một số yếu tố kiềm chế cũng đang xuất hiện, khiến tỷ giá khó tăng quá mạnh…
Sáng 16/6, giá vàng trong nước phân hóa mạnh giữa các thương hiệu khi SJC, DOJI và Phú Quý đồng loạt tăng giá mua cao hơn giá bán, trong khi Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận và Bảo Tín Minh Châu giữ giá. Chênh lệch với giá vàng thế giới quy đổi tiếp tục neo quanh 12 – 13,5 triệu đồng/lượng...
Thông tin Mỹ – Iran tiến gần một thỏa thuận nhằm hạ nhiệt căng thẳng tại Trung Đông đang tạo thêm biến số cho thị trường vàng, song theo các chuyên gia, đây chưa phải yếu tố đủ sức chi phối xu hướng giá. Trong nước, nguồn cung hạn chế được xem là yếu tố giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao, dù thị trường vẫn có thể xuất hiện các nhịp điều chỉnh theo diễn biến của giá vàng thế giới...
Ngân hàng UOB Việt Nam vừa công bố quyết định bổ nhiệm ông Phạm Hồng Hải vào vị trí Phó Tổng giám đốc. Một động thái quan trọng nhằm củng cố vị thế của ngân hàng tại thị trường tài chính Việt Nam…
Trong phiên giao dịch hôm nay (15/6), tỷ giá USD tự do tăng 50 - 60 đồng so với cuối tuần trước, trong khi Ngân hàng Nhà nước có nhịp nâng tỷ giá trung tâm mạnh hơn thường lệ với mức tăng 10 đồng. Tuy nhiên, khoảng cách gần 100 đồng giữa thị trường tự do và ngân hàng cùng diễn biến giá mua USD tại các nhà băng cho thấy áp lực vẫn trong tầm kiểm soát…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.