Khi xung đột xảy ra tại Trung Đông, việc eo biển Hormuz bị phong tỏa và nhiều cơ sở năng lượng trong khu vực bị tấn công đã đẩy giá dầu tăng sốc, kéo theo là tăng giá năng lượng nói chung. Giá dầu Brent theo hợp đồng tương lai đã vượt 100 USD/thùng, so với 3 tháng trước đã tăng hơn 50%. Giá xăng dầu, giá gas ở nhiều nước châu Á và châu Âu cũng tăng ở mức tương tự hoặc cao hơn.
Dầu mỏ nói riêng và năng lượng nói chung là một yếu tố rất quan trọng của nền kinh tế, vì nó là chi phí đầu vào của hầu hết các hàng hóa dịch vụ. Cũng vì lý do đó mà người ta ví von “trong ổ bánh mì cũng có mùi xăng dầu”.
So với khủng hoảng giá năng lượng từ cuộc chiến Nga-Ukraine thì cuộc khủng hoảng từ xung đột tại Iran là nghiêm trọng hơn. Nhiều quốc gia đã quyết định tăng đầu tư cho dự trữ chiến lược, hoặc điều chỉnh chiến lược năng lượng, từ đó làm tăng chi phí của nền kinh tế.
Giá dầu tăng và gián đoạn nguồn cung từ Trung Đông còn ảnh hưởng lớn đến thị trường phân bón và lương thực toàn cầu. Năng lượng và lương thực là nhóm hàng hóa quan trọng trong rổ tính chỉ số giá và chiếm một tỷ lệ đáng kể trong chi tiêu của phần lớn các hộ gia đình. Khi hai nhóm hàng hóa này tăng mạnh và kéo dài, sức mua thực tế hay túi tiền của người dân sẽ bị bào mòn mạnh mẽ.
Khi chi phí tăng, thì giá cả sẽ phải tăng theo và kết quả dễ thấy là lạm phát tăng. Với xăng dầu còn đặc biệt hơn ở chỗ khi giá tăng thì nhanh mà giảm thì chậm do cơ chế truyền dẫn giá bất cân xứng (Asymmetric Price Transmission). Trong trường hợp cú sốc giá năng lượng kéo dài thì mức độ dai dẳng của lạm phát càng cao vì người dân và doanh nghiệp đã quen với nền giá mới.
Trong một báo cáo mới đây của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), trong trường hợp giá năng lượng tăng và kéo dài thì tác động đến lạm phát của các nền kinh tế là không hề nhỏ. Ở kịch bản cơ sở (giá năng lượng giảm dần), lạm phát của các nước trong nhóm G20 là 4% trong năm 2026 và 2,7% trong năm 2027. Trong kịch bản xấu thì lạm phát có thể tăng thêm 0,7 điểm phần trăm từ kịch bản cơ sở đối với kinh tế toàn cầu.
Biên bản cuộc họp ngày 17-18/3/2026 vừa qua của Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ (Fed) cũng cho thấy nhiều thành viên của tổ chức này rất quan ngại về tác động của giá năng lượng lên lạm phát, mục tiêu 2% khó đạt được khi lạm phát kéo dài và ở mức cao. Trong khi chỉ có vài thành viên sẵn lòng để ngỏ cho chính sách tiền tệ thắt chặt hơn vào tháng 1/2026 thì hiện nay số thành viên ủng hộ khả năng tăng lãi suất đã chiếm đa số.
Lạm phát chỉ mới là cú đấm đầu tiên, vì cuộc chiến ở Iran còn ảnh hưởng tới việc làm và tăng trưởng. Một kịch bản dễ xảy ra đó là khi giá cả tăng mạnh và kéo dài, chi tiêu của các hộ gia đình sẽ giảm đáng kể, các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất kinh doanh, vì thế nhu cầu tuyển dụng chậm lại hoặc thậm chí cắt giảm; từ đó, tăng trưởng bị chậm lại.
Cũng theo báo cáo của OECD, tăng trưởng của kinh tế toàn cầu năm 2026 được dự phóng là 2,9%; tuy nhiên, trong kịch bản xấu do ảnh hưởng của giá năng lượng, tăng trưởng có thể bị giảm 0,3% trong năm đầu tiên và giảm 0,5% trong năm thứ hai.
Ngân hàng Thế giới (WB) cũng vừa mới công bố báo cáo mới về kinh tế các khu vực, trong đó khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (East Asia and Pacific Economic Update) cho thấy tăng trưởng của khu vực này sẽ giảm từ 5% năm 2025 xuống còn 4,2% trong năm 2026. Các nền kinh tế của khu vực này phụ thuộc nhiều vào năng lượng nhập khẩu và rất mẫn cảm với xung đột ở Trung Đông.
Đáng chú ý, theo báo cáo này, Việt Nam là một trong các nước bị ảnh hưởng nhiều nhất, tăng trưởng dự báo trong năm 2026 là 6,3%, so với hơn 8% của năm 2025.
Trong quý I/2026, kinh tế Việt Nam ghi nhận tăng trưởng ở mức 7,83%, nếu muốn đạt mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm nay thì các quý còn lại phải tăng trưởng trên 10%. Tuy nhiên, cuộc chiến ở Iran và khủng hoảng năng lượng đang và sẽ tạo ra nhiều “cơn gió ngược” cho mục tiêu này.
Với biến động giá năng lượng, gián đoạn chuỗi cung ứng và sức ép lạm phát lớn thì các mục tiêu như tăng trưởng, ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn, chống khủng hoảng kinh tế rất khó để đạt được cùng lúc, phải có sự ưu tiên và đánh đổi.
Thông điệp từ Chính phủ cho thấy tăng trưởng hai chữ số dường như vẫn là mục tiêu được ưu tiên trên hết. Nếu vậy thì động lực chính sẽ dồn về Chính phủ, ở chi tiêu, đầu tư công và yêu cầu Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ để hỗ trợ.
Điều này cũng có thể thấy được qua việc thúc đẩy giải ngân các công trình trọng điểm, kiểm soát và tăng thu ngân sách, Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại hạ lãi suất, thay đổi bảng cân đối của Ngân hàng Nhà nước. Ngoài ra, một động lực khác để tăng GDP đó là các khoản chi chuyển nhượng.
Trong tình huống này, bài học từ những bất ổn vĩ mô năm 2011 có thể được tham khảo trở lại. Khi đó, chính sách nới lỏng tiền tệ, kích thích tín dụng sau một thời gian “thả ga” đã bị “phanh gấp”; cơ cấu nguồn vốn không hợp lý từ sai mục đích sử dụng, đến mất cân đối kỳ hạn (ví dụ vay ngắn hạn cho vay dài hạn); đầu tư công không hiệu quả với sự thất bại của một số “quả đấm thép”; nợ xấu và nguy cơ rủi ro hệ thống, lạm phát có lúc lên 18-20%.
Giới quan sát quốc tế cho rằng mục tiêu tăng trưởng hai chữ số của Việt Nam lúc này là khá tham vọng. Dự phóng của các tổ chức quốc tế lớn cho thấy mức tăng trưởng thấp hơn khá nhiều, như IMF là 5,6%, Ngân hàng thế giới là 6,3% và Bloomberg survey là 7,2%. Một trong các lý do được đưa ra là Việt Nam đánh giá cao các yếu tố nền tảng của mình và đánh giá thấp các trở ngại.
Nếu Việt Nam vẫn quyết tâm và kiên định với mục tiêu tăng trưởng hai chữ số trong năm 2026 với việc huy động tối đa các công cụ chính sách từ tài khóa, tiền tệ, đến thu hút đầu tư nước ngoài thì cũng có thể đạt được. Tuy vậy, nên cân nhắc cái giá phải trả cho kết quả này, với việc nhìn dài hạn hơn về ổn định vĩ mô và lạm phát.
Với những sự bất định và khó lường của kinh tế thế giới trong thời gian tới, cũng như những rủi ro về một cuộc khủng hoảng ngày càng có nhiều tín hiệu hơn như thị trường nợ tư nhân (private credit), bong bóng AI thì Việt Nam nên ưu tiên ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát.
---
(*) Giảng viên Trường IPAG Business School Paris, Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh; thành viên của Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam Toàn cầu (AVSE Global).
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 15-2026 phát hành ngày 13/04/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-15-2026.html
Bộ Xây dựng trình Quốc hội chủ trương đầu tư hai tuyến cao tốc Bảo Hà - Tân Phong và Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên qua tỉnh Sơn La, với tổng vốn sơ bộ hơn 114.000 tỷ đồng, dự kiến khởi công năm 2027 và cơ bản hoàn thành năm 2030...
Sau hơn 5 tháng triển khai, 16 doanh nghiệp sản xuất tại miền Bắc ghi nhận những cải thiện về năng suất, quy trình quản lý và ứng dụng dữ liệu thông qua hai chương trình tư vấn nhà máy thông minh và khuôn mẫu thông minh...
Trong giai đoạn đầu khai thác sân bay Long Thành, khi các tuyến đường sắt kết nối chưa vận hành, ACV đề xuất tổ chức xe trung chuyển trực tiếp giữa hai sân bay Long Thành và Tân Sơn Nhất, đồng thời nghiên cứu cơ chế ưu tiên lưu thông cho xe buýt sân bay nhằm bảo đảm kết nối thuận tiện, thông suốt...
Tại phiên thẩm tra dự thảo nghị quyết thông qua Quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh thời kỳ 2025 - 2050, tầm nhìn 100 năm do Ban Đô thị Hội đồng nhân dân Thành phố tổ chức chiều 26/10 vừa qua, Hiệp hội Bất động sản TP. Hồ Chí Minh (HoREA) đã có kiến nghị với nội dung trên.
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đề xuất bốn hướng hợp tác với các đối tác quốc tế nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Thảo luận Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội cho rằng, đối với các dự án nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư để dẫn dắt thị trường thì cần yêu cầu công khai đầy đủ cấu phần giá thành gồm chi phí đất, xây dựng, tài chính, quản lý, vận hành, bảo trì và các khoản chi phí hợp pháp khác. Việc công khai này giúp hình thành mặt bằng tham chiếu đáng tin cậy cho thị trường...