Bộ Nội vụ đang xây dựng dự thảo
Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 150/2025/NĐ-CP Chính
phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương.
QUY ĐỊNH VỀ SỐ LƯỢNG PHÓ GIÁM ĐỐC SỞ, PHÓ PHÒNG
So với quy định hiện hành, dự thảo Nghị định đã sửa đổi, bổ sung số lượng
phó giám đốc sở, phó trưởng phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc sở, phó chánh văn
phòng sở, phó chi cục
trưởng thuộc sở, phó trưởng phòng thuộc chi cục thuộc sở và cấp phó của người đứng phòng
thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã.
Về số lượng phó giám đốc sở được bố trí
bình quân 3 người/sở. Trường hợp sở được thành lập trên cơ sở hợp nhất, sáp
nhập khi thực hiện hợp nhất 2 tỉnh,
thành phố, thì số lượng phó giám đốc sở được tăng thêm tối đa không vượt quá 1
người/sở.
Trường
hợp sở được thành lập trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập khi thực hiện hợp nhất 3 tỉnh, thành phố, thì được tăng thêm tối đa 2 phó giám đốc/sở.
Trường hợp sở đã thực hiện hợp nhất, sáp nhất và
tiếp tục thực hiện hợp nhất, sáp nhập khi hợp nhất 2 tỉnh, thành phố, thì số
lượng phó giám đốc sở được tăng thêm tối đa không vượt quá 2 người/sở; hợp nhất
3 tỉnh, thành phố thì số lượng phó giám đốc sở được tăng thêm tối đa không vượt
quá 3 người/sở.
Trường
hợp các sở đặc thù không cùng ngành, lĩnh vực khi thực hiện hợp nhất tỉnh,
thành phố thì giữ nguyên số lượng phó giám đốc sở.
Với
TP.Hà Nội, TP.HCM, ngoài
tổng số lượng phó giám đốc theo bình quân chung, thì được tăng thêm không quá
10 phó giám đốc.
Về số lượng phó trưởng
phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc sở, theo dự thảo Nghị định, phòng thuộc sở có dưới 10 biên chế công chức được bố trí 1 phó trưởng
phòng; từ 10 đến 14 biên chế công chức được bố
trí không quá 2 phó trưởng phòng; từ 15 biên chế công chức trở lên được bố trí
không quá 3 phó trưởng phòng.
Trường hợp phòng
được thành lập trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập khi thực hiện hợp nhất 2
tỉnh, thành phố, thì số lượng phó trưởng phòng được tăng thêm tối đa không vượt
quá 1 người/phòng; được thành lập trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập khi thực hiện hợp nhất 3
tỉnh, thành phố thì tăng thêm tối đa không vượt quá 2 người/phòng.
Chi
cục thuộc sở có từ 1 đến 3 phòng và tương đương được bố trí 1 phó chi cục
trưởng; không có phòng hoặc có từ 4 phòng và
tương đương trở lên được bố trí không quá 2 phó chi cục trưởng.
Trường hợp chi cục được thành lập trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập khi thực hiện hợp nhất 2 tỉnh, thành phố, thì số lượng phó chi cục trưởng
được tăng thêm tối đa không vượt quá 1 người/chi cục.
Chi cục được
thành lập trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập khi thực hiện hợp nhất 3
tỉnh, thành phố, thì số lượng phó chi cục trưởng được tăng thêm tối đa không
vượt quá 2 người/chi cục.
Căn cứ vào tiêu chí, nguyên tắc xác định số
lượng cấp phó quy định tại Nghị định này, giám đốc sở xác định tổng số lượng
cấp phó của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý, và quyết định số
lượng cấp phó cụ thể của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị theo thẩm quyền.
TĂNG SỐ LƯỢNG PHÒNG CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
Về vị trí và chức năng của phòng thuộc Ủy ban
nhân dân cấp xã, dự thảo Nghị định bổ sung phòng có tư cách pháp nhân, có con
dấu và tài khoản riêng để bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ được
giao và đồng bộ, thống nhất với Nghị quyết số 190/NQ-CP.
Số lượng phó trưởng phòng được tính trên nguyên tắc bình quân 2 cấp
phó/phòng. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cụ thể số lượng phó trưởng phòng
cấp xã trong toàn tỉnh, thành phố, bảo đảm phù hợp với quy mô diện tích, dân
số, phân loại đơn vị hành chính, phân loại đô thị, GRDP, thu ngân sách nhà
nước, số lượng tổ chức đảng, đảng viên, đoàn viên, hội viên… đối với từng xã,
phường, đặc khu.
Về khung số lượng các phòng chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân cấp xã, Bộ Nội vụ cho biết hiện nay, theo quy định tại Điều 16 Nghị định số
150/2025/NĐ-CP, thì khung số lượng các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
cấp xã, gồm có: 3 phòng chuyên môn và Trung tâm Phục vụ hành chính công.
Tuy nhiên, trong quá trình vận hành chính
quyền địa phương 2 cấp, có nhiều đề xuất, kiến nghị cần tăng thêm số lượng
phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. Việc này để kịp thời giải quyết các thủ tục và
phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân.
Do vậy, trên cơ sở tổng
hợp tiêu chí phân loại đơn vị hành chính, dự thảo Nghị định quy định việc thành
lập thêm phòng chuyên môn phải đáp ứng các tiêu chí theo phân loại đơn vị hành
chính.
Cụ thể: Ở phường; ở xã
loại 1 có trên 35.000 dân và ở đặc khu có trên 35.000 dân. Theo đó, các
địa phương căn cứ vào tình hình thực tế để xác định số phòng chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân cấp xã, bảo đảm không vượt quá trung bình 4,5 phòng và tương
đương tại 1 đơn vị hành chính cấp xã.