Theo Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII), Việt Nam đặt mục tiêu phát triển điện gió ngoài khơi phục vụ nhu cầu trong nước với tổng công suất khoảng 6.000–17.032 MW, dự kiến đưa vào vận hành trong giai đoạn 2030–2035.
Về dài hạn, đến năm 2050, quy mô này có thể mở rộng lên 113.503–139.097 MW, thể hiện định hướng đưa điện gió ngoài khơi trở thành một trong những trụ cột quan trọng của hệ thống năng lượng quốc gia.
Từ chia sẻ từ các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam hiện được đánh giá sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi, có thể so sánh với Đài Loan ở giai đoạn khởi đầu cách đây 10–15 năm. Trên nền tảng đó, thị trường trong nước ngày càng thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của các nhà đầu tư quốc tế, không chỉ ở khâu phát triển dự án mà còn trên toàn bộ chuỗi giá trị, từ cung ứng thiết bị, dịch vụ kỹ thuật đến hạ tầng hỗ trợ.
Dẫu vậy, khung khổ chính sách liên quan đến cấp phép khảo sát, phân bổ khu vực và phê duyệt dự án điện gió ngoài khơi vẫn còn thiếu rõ ràng và nhất quán. Điều này khiến việc xây dựng một lộ trình xuyên suốt từ giai đoạn thăm dò đến triển khai gặp nhiều trở ngại.
Những bất cập này không chỉ làm chậm tiến trình ra quyết định đầu tư mà còn làm gia tăng đáng kể mức độ rủi ro, đặc biệt khi một dự án điện gió ngoài khơi thường cần 7–8 năm để hoàn thiện từ khâu chuẩn bị đến vận hành. Với quy mô lớn, có thể lên tới 1.000 MW và tổng vốn đầu tư khoảng 4–5 tỷ USD mỗi dự án, bất kỳ sự thiếu chắc chắn nào về chính sách hay thủ tục đều có thể trở thành rào cản đáng kể đối với dòng vốn quốc tế.
Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật và năng lực triển khai cũng đang đặt ra nhiều thách thức. Hệ thống cảng biển, cơ sở đóng tàu cũng như đội tàu lắp đặt trong nước hiện vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phục vụ các dự án điện gió ngoài khơi quy mô lớn, đặc biệt là đối với các tuabin công suất cao và các hạng mục thi công ngoài khơi phức tạp.
Vì vậy, các chuyên gia cho rằng để thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài một cách bền vững, Việt Nam cần xây dựng một hệ sinh thái chính sách và thị trường đủ minh bạch, ổn định và có tính dự báo cao, đồng thời tạo dựng niềm tin dài hạn cho các nhà đầu tư. Trong đó, bên cạnh việc hoàn thiện khung pháp lý và cải thiện hạ tầng, các nhà đầu tư đặc biệt nhấn mạnh vai trò của “hợp tác chiến lược” trong phát triển điện gió ngoài khơi giữa doanh nghiệp trong nước và quốc tế...
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 13-2026 phát hành ngày 30/03/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-13-2026.html
TP. Hồ Chí Minh đang thay đổi cách tiếp cận thu hút FDI vào các khu công nghiệp, khu chế xuất theo hướng: chuyển từ tiếp nhận bị động sang chủ động tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược, xúc tiến theo chuỗi giá trị và tập trung vào chất lượng công nghệ cao...
Nếu tính cả danh mục ủy thác đầu tư, tổng tài sản do các công ty quản lý quỹ đang quản lý lên tới khoảng 846 nghìn tỷ đồng, tương đương 32,5 tỷ USD…
Sản lượng hàng hoá thông qua cảng biển Hải Phòng tăng rất lớn qua từng năm nhưng phương thức giải toả hàng hoá vẫn chủ yếu phụ thuộc vào đường bộ…
Ông Bùi Hoàng Phương, Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, được HĐND tỉnh bầu giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031 với 100% đại biểu có mặt tán thành.
Ông Trương Minh Huy Vũ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, được bầu giữ chức Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí minh, nhiệm kỳ 2026 - 2031…
Để du lịch chăm sóc sức khỏe Việt Nam không dừng lại ở tiềm năng, việc đồng bộ thể chế, tiêu chuẩn chất lượng và phát triển nguồn nhân lực chuyên sâu là yêu cầu cấp thiết. Đây là những yếu tố quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh bền vững và tạo dựng bản sắc riêng cho dòng sản phẩm này…
Sau hơn nửa năm xung đột Mỹ - Iran, những kỳ vọng rằng căng thẳng sẽ sớm hạ nhiệt, eo biển Hormuz được khai thông và giá dầu trở lại vùng 70-80 USD/thùng đang gặp nhiều thách thức. Đầu tháng 9/2026, giá dầu Brent đã tiến sát 100 USD/thùng. Nhưng điều đáng chú ý không chỉ nằm ở con số này.