Hoàn thiện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo dể phát triển bền vững kinh tế biển
Hằng Anh
11/03/2026, 11:05
Trước yêu cầu mới trong phát triển, gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên biển, đòi hỏi cần sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm tháo gỡ vướng mắc, bất cập, hoàn thiện pháp lý cho quản lý, phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển...
hoàn thiện hành lang pháp lý để quản lý, phát triển bền vững kinh tế biển. Ảnh minh họa
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa công bố dự thảo hồ sơ Luật Tài
nguyên, môi trường biển và hải đảo (thay thế). Điều này nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý thống nhất cho quản lý tổng hợp
tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý; tháo gỡ các rào cản pháp lý với phát triển kinh tế biển bền vững;
tăng cường bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển và vùng bờ; đồng thời bảo đảm
thực hiện đầy đủ các cam kết, điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia...
NHỮNG VẤN ĐỀ, YÊU CẦU MỚI ĐẶT RA TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sau gần 10 năm thi hành,
Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 đã tạo cơ sở pháp lý quan
trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Hệ thống
pháp luật đã góp phần nâng cao nhận thức xã hội, thúc đẩy bảo vệ hệ sinh thái
biển, khai thác hợp lý tài nguyên, phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển, bảo
đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia…
Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của phát triển kinh tế biển, tiến
bộ khoa học- công nghệ và gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên biển, các quy định
đã bộc lộ bất cập. Một số quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo với luật khác; thiếu
cụ thể, chưa phù hợp thực tiễn hoặc chưa đầy đủ để triển khai hiệu quả.
Ví dụ như:
quy định về hành lang bảo vệ bờ biển; phân vùng và xác định khu vực biển theo mục
đích sử dụng; cơ chế kiểm soát ô nhiễm từ đất liền, trên biển và xuyên biên giới;
quản lý nhận chìm ở biển; chia sẻ và tích hợp dữ liệu biển…
Luật hướng tới hình thành khuôn khổ pháp lý thống nhất, chuyên ngành và có tính hệ thống cho quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và không gian biển, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển và hải đảo. Ảnh minh họa
Đáng chú ý, trong dự thảo tờ trình chính sách, Bộ Nông nghiệp
và Môi trường cũng chỉ rõ một số vấn đề mới và xu thế mới cần xem xét, sửa đổi,
bổ sung trong luật. Ví dụ như quy định về
bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ; bảo vệ môi trường biển do rác thải biển,
trong đó có rác thải nhựa biển; một số điều ước quốc tế chưa được nội luật hóa; về quản lý sử dụng không gian biển...
Về quy định bảo vệ môi trường biển do rác thải biển, mặc dù
Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã có những quy định quản lý chất thải, song
còn thiếu các quy định cụ thể với rác thải nhựa đại dương như giảm thiểu- tái sử
dụng- tái chế, thu gom rác từ hoạt động nuôi biển, trên đảo, từ tàu cá nhỏ; thiếu
hướng dẫn kỹ thuật và phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền.
Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo hiện mới dừng ở
mức nguyên tắc, chưa có cơ chế kiểm soát rác thải biển cụ thể. Do đó, cần sửa đổi,
bổ sung luật theo hướng quy định rõ về phòng ngừa, kiểm soát, thu gom và xử lý
rác thải biển, đặc biệt là rác thải nhựa, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và các
cam kết quốc tế.
Về quản lý sử dụng không gian biển, diện tích biển Việt Nam
rất lớn và nhu cầu khai thác, sử dụng ngày càng đa dạng, trong khi hệ thống
pháp luật hiện hành mới dừng ở quy định khung về giao khu vực biển, chưa luật
hóa đầy đủ các vấn đề như quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân; chế độ
tài chính; cơ chế xử lý xung đột, chồng lấn không gian biển...
Ngoài ra, còn thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng cho phân vùng sử dụng
không gian biển ở cấp địa phương và phân định ranh giới quản lý hành chính trên
biển; đồng thời cần nghiên cứu cơ chế giao địa phương xác định mức thu tiền sử
dụng khu vực biển để phù hợp tiềm năng từng vùng.
Việc xây dựng các chính sách sửa
đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm thể chế hóa đầy
đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối mới của Đảng, chính sách của Nhà nước về
phát triển bền vững kinh tế biển; chuyển đổi mô hình quản lý biển từ phương thức
truyền thống sang quản trị tổng hợp, hiện đại, dựa trên khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và dữ liệu; góp phần thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam trở thành
quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.
Việc sửa đổi Luật hướng tới hình
thành khuôn khổ pháp lý thống nhất, chuyên ngành và có tính hệ thống cho quản
lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và không gian biển, bảo vệ môi trường, hệ
sinh thái biển và hải đảo; khắc phục căn bản tình trạng phân tán, chồng chéo,
thiếu cụ thể và khoảng trống pháp luật; đáp ứng
yêu cầu phát triển nhanh, bền vững kinh tế biển...
CÁC NHÓM CHÍNH SÁCH LỚN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ BIỂN
Tại dự thảo tờ trình, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết các chính
sách sửa đổi, bổ sung tập trung hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý tổng hợp
tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, trong đó trọng tâm là: quản lý, sử dụng
không gian biển; bảo vệ môi trường biển, đa dạng sinh học biển, tài nguyên và
môi trường vùng bờ; kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; cơ chế, chính
sách phát triển bền vững kinh tế biển…
Thứ nhất, tăng cường quản lý, sử dụng không gian biển, thiết
lập cơ sở pháp lý để tổ chức thực hiện Quy hoạch không gian biển quốc gia,
trong đó quy định rõ nguyên tắc, tiêu chí và cơ chế xử lý xung đột, chồng lấn
trong sử dụng không gian biển theo tiếp cận quy hoạch không gian biển (MSP).
Bổ sung và hoàn thiện các công cụ quản lý hiện đại, bao gồm
cơ chế đấu giá quyền sử dụng khu vực biển; đăng ký, số hóa và xây dựng cơ sở dữ
liệu không gian biển; công cụ kinh tế trong quản lý, sử dụng khu vực biển; cơ
chế quản lý vòng đời công trình, dự án trên biển.
Đảm bảo hài hòa giữa quyền khai thác, sử dụng với trách nhiệm bảo vệ môi trường, sử dụng bền vững tài nguyên biển và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Ảnh minh họa
Cùng với đó hoàn thiện hệ thống quyền và nghĩa vụ của tổ chức,
cá nhân được giao khu vực biển, bảo đảm hài hòa giữa quyền khai thác, sử dụng với
trách nhiệm bảo vệ môi trường, sử dụng bền vững tài nguyên biển và thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý của
Nhà nước với không gian biển, đặc biệt trong các khâu kiểm soát sử dụng,
điều tiết lợi ích, thu hồi khu vực biển, bồi thường, hỗ trợ, phòng ngừa và giải
quyết tranh chấp...
Thứ hai, tăng cường quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ
môi trường vùng bờ nhằm thiết lập cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất và khả thi để
tăng cường bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ; phòng ngừa, kiểm soát xói lở,
suy thoái, ô nhiễm và các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu, nước biển
dâng; nâng cao
khả năng chống chịu của vùng bờ, qua đó góp phần bảo đảm phát triển bền vững
kinh tế biển, ổn định sinh kế ven biển và quốc phòng, an ninh.
Thứ ba, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, hướng
tới nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm; tăng cường giám sát,
quan trắc; hoàn thiện cơ chế bồi thường, khắc phục sự cố; đẩy mạnh phòng ngừa từ
sớm, từ xa.
Thứ tư, thúc đẩy khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong
lĩnh vực biển, hướng tới tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ hiện
đại trong điều tra cơ bản, quan trắc, giám sát, quản lý dữ liệu; khuyến khích
nghiên cứu, đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển kinh tế biển.
Thứ năm, bổ sung cơ chế phát triển bền vững kinh tế biển.
Chính sách này xác lập nguyên tắc phát triển kinh tế biển xanh, hiệu quả, bền vững;
gắn khai thác với bảo tồn; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cộng đồng,
doanh nghiệp và Nhà nước.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các chính sách được xây dựng
nhằm thiết lập nền tảng pháp lý cho quản lý, sử dụng không gian biển theo quy
hoạch tích hợp, hài hòa lợi ích giữa các ngành, lĩnh vực và các cấp; Tăng cường
bảo vệ, phục hồi tài nguyên, môi trường vùng bờ, nâng cao khả năng chống chịu
và bảo đảm an ninh tài nguyên, môi trường biển.
Việc xây dựng các chính sách cũng nhằm hoàn thiện cơ chế
phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, chuyển trọng tâm từ
“xử lý” sang “chủ động phòng ngừa, quản lý rủi ro”.
Cùng với đó luật hóa các yêu cầu về phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho hệ thống dữ liệu
biển và quản trị biển hiện đại; tạo hành lang pháp lý thúc đẩy phát triển bền vững
các ngành kinh tế biển; bảo đảm khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển gắn
với bảo vệ, bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái, sử dụng hiệu quả không gian biển
và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đánh giá tiềm năng phát triển hàng hải xanh, kinh tế biển xanh
23:51, 29/01/2026
Tạo nền tảng pháp lý và dữ liệu cho kỷ nguyên phát triển bền vững kinh tế biển
10:31, 06/01/2026
Định hình mô hình phát triển mới cho kinh tế biển Việt Nam
Lồng ghép hành động khí hậu vào chiến lược sản xuất, tiêu dùng bền vững và kinh tế tuần hoàn
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, việc thúc đẩy các mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững cùng kinh tế tuần hoàn được xem là giải pháp quan trọng giúp giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng hiệu quả tài nguyên, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế...
Đẩy mạnh phối trộn, sử dụng xăng sinh học trong chuyển dịch năng lượng
Việc đẩy mạnh sử dụng xăng E5, E10 là giải pháp then chốt giúp chuyển dịch năng lượng xanh, giảm phát thải và bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia trong thời kỳ mới…
Sơ kết 2 năm thực hiện Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao
Sau hơn hai năm triển khai Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích thực hiện vượt gần gấp đôi mục tiêu giai đoạn đầu. Cùng với giảm phát thải và bảo vệ môi trường, những thay đổi trong tổ chức sản xuất và hình thành chuỗi giá trị lúa gạo đang mở ra hướng đi bền vững cho ngành hàng quan trọng này.
Cuộc thi “Check-in Huế xanh” lan tỏa du lịch có trách nhiệm
Cuộc thi “Check-in Huế xanh” với thông điệp khuyến khích du khách và cộng đồng cùng chung tay bảo vệ môi trường, giảm thiểu rác thải nhựa trong các hoạt động tham quan, trải nghiệm tại Huế...
Xuất khẩu sang EU: Cuộc chuyển đổi bắt buộc của nông sản Việt
Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) được nhìn nhận là động lực giúp nông, lâm sản Việt Nam chuyển đổi số, chuẩn hóa dữ liệu và nâng cao quản trị. Đáp ứng tiêu chuẩn EU không chỉ giúp vượt rào cản thương mại, mà còn tạo đà thuận lợi để sản phẩm Việt Nam chinh phục các thị trường cao cấp khác thuận lợi hơn.
Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).
Tổng số đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI trong cả nước là 182. Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố được ấn định...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.
Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán),
có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu).
Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: