Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng trở nên nghiêm trọng, việc chuyển đổi sang nền nông nghiệp carbon thấp không chỉ là một lựa chọn mà đã trở thành một yêu cầu cấp thiết. Việt Nam, với nền nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong tổng lượng phát thải quốc gia, đang đứng trước thách thức và cơ hội lớn để khẳng định vị thế trong nền kinh tế xanh toàn cầu. Bài viết này sẽ đi sâu vào phân tích các yếu tố thúc đẩy, thách thức và triển vọng của nền nông nghiệp carbon thấp tại Việt Nam.
Nông nghiệp Việt Nam hiện nay đóng góp một phần không nhỏ vào tổng lượng phát thải khí nhà kính, chủ yếu từ canh tác lúa nước, chăn nuôi và sử dụng phân bón. Các khí thải chính bao gồm CO2 từ đốt nhiên liệu, CH4 từ ruộng lúa và tiêu hóa dạ cỏ, cùng N2O từ bón phân đạm và chất hữu cơ. Để giảm thiểu tác động tiêu cực này, Việt Nam đã thực hiện sáu kỳ kiểm kê quốc gia về khí nhà kính, thể hiện quyết tâm minh bạch hóa dữ liệu phát thải và đáp ứng nghĩa vụ quốc tế về ứng phó biến đổi khí hậu.
Một trong những giải pháp quan trọng là áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong sản xuất nông nghiệp. Mô hình CARICE (Circular in Rice Production) đã chứng minh khả năng giảm phát thải tới 40% so với phương thức canh tác truyền thống. Bằng cách tái chế rơm rạ sau thu hoạch thành nguyên liệu trồng nấm, phân hữu cơ hoặc biochar, mô hình này không chỉ giúp giảm phát thải mà còn cải thiện độ phì nhiêu của đất và giảm chi phí sản xuất.
Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, việc đầu tư vào công nghệ đo phát thải, mô hình tuần hoàn và MRV (đo lường, báo cáo và xác minh) chuẩn quốc tế là vô cùng cần thiết. MRV không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là “xương sống” của quản trị carbon hiện đại. Việc đo phát thải khí nhà kính hiện nay được thực hiện theo ba nhóm phương pháp: đo trực tiếp, tính toán theo hướng dẫn IPCC, và mô hình hóa. Đây là cơ sở để xác lập hệ số phát thải đặc trưng quốc gia, phục vụ cho các tính toán quy mô lớn.
Thị trường carbon trong nước, dự kiến sẽ được thành lập vào năm 2025, là một bước ngoặt quan trọng. Thị trường này cho phép các tổ chức, doanh nghiệp có thể trao đổi, mua bán “tín chỉ carbon”, đơn vị được quy đổi tương đương với 1 tấn CO2 giảm phát thải. Điều này không chỉ giúp nông nghiệp Việt Nam thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050 mà còn mở ra nguồn thu mới từ tín chỉ carbon, tạo động lực cho nông dân và doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất xanh.
Tuy nhiên, để thực hiện thành công các mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Nghị định 119/2025/NĐ-CP vừa được ban hành, bổ sung và hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường carbon Việt Nam, quy định rõ trách nhiệm của các bên trong việc kiểm kê, báo cáo phát thải, đồng thời khuyến khích các mô hình tự nguyện, sáng tạo trong giảm phát thải và hấp thụ carbon.
Nền nông nghiệp carbon thấp không chỉ là giải pháp cho vấn đề biến đổi khí hậu mà còn là cơ hội để Việt Nam nâng cao uy tín và chất lượng nông sản trên thị trường quốc tế. Các đối tác lớn như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ đều đặt tiêu chuẩn carbon làm hàng rào kỹ thuật. Nếu không chủ động kiểm soát, nông nghiệp Việt Nam sẽ mất cơ hội trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
(*) PGS.TS. Mai Văn Trịnh, Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp Việt Nam.
----
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 44-2025 phát hành ngày 3/11/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-44-2025.html
Khi điện gió phát triển nhanh tại châu Âu, số lượng tuabin và cánh quạt hết vòng đời cũng sẽ gia tăng. Một doanh nghiệp Thụy Điển đang thử nghiệm nhiều cách tái sử dụng các bộ phận của tuabin gió, từ biến vỏ nacelle thành nhà siêu nhỏ, cánh quạt thành mặt tiền bãi đỗ xe đến chế tạo ván trượt tuyết, qua đó mở thêm hướng đi cho kinh tế tuần hoàn trong ngành năng lượng tái tạo…
Từ loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone, Việt Nam đang bước sang giai đoạn giảm dần các chất có tác động lớn đến khí hậu, tăng cường quản lý các chất được kiểm soát trong toàn bộ vòng đời và thúc đẩy các giải pháp công nghệ bền vững hơn. Cùng với đó, hệ thống chính sách từng bước được hoàn thiện, vừa bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế, vừa định hướng thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh theo hướng xanh, bền vững...
Năm 2026 đánh dấu 10 năm kể từ khi Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal được thông qua, mở ra một giai đoạn mới trong nỗ lực toàn cầu bảo vệ tầng ozone và ứng phó với biến đổi khí hậu. Với việc đưa các chất HFC- những khí nhà kính có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao - vào lộ trình giảm dần, Bản sửa đổi, bổ sung Kigali đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi công nghệ trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí theo hướng có tác động thấp hơn tới khí hậu...
Việc quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone và các chất gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời thúc đẩy làm mát bền vững, cần được đặt trong một bài toán tổng thể với cách tiếp cận mới và các giải pháp đồng bộ. Làm mát bền vững là bài toán liên ngành, liên quan đến nhiều bộ, ngành và địa phương...
UBND Thành phố Hà Nội yêu cầu các sở, ban, ngành và địa phương chủ động rà soát các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển bền vững; đánh giá mức độ thực hiện và khả năng hoàn thành đến năm 2030, gắn với tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường...
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Năm 2025, quy mô thị trường du lịch wellness toàn cầu được định giá 990,4 tỷ USD. Năm 2026, dự kiến 1.085,6 tỷ USD. Năm 2035 dự kiến 2.400 tỷ USD. Thị trường châu Á - Thái Bình Dương có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm cao nhất... trong giai đoạn 2026 - 2035.