Lần đầu tiên một ngân hàng thương mại cổ phần lên kế hoạch gặp mặt báo chí hàng quý để cập nhật, trao đổi về tình hình hoạt động. Ngày 13/12/2016, Techcombank bắt đầu triển khai sự chủ động này.
Cũng là lần đầu tiên toàn bộ thành viên Ban Điều hành Techcombank có mặt, để báo chí “đụng” đến mảng nào, lĩnh vực nào thì người phụ trách mảng đó trực tiếp trả lời.
Đã gần hết 2016, nhưng câu hỏi chung nổi bật những năm 2012-2013 vẫn còn đó: vì sao Techcombank có sự suy giảm rất mạnh nhiều chỉ tiêu tài chính quan trọng, đặc biệt về lợi nhuận, trong những năm đó?
Dĩ nhiên, trước đây đã có những câu trả lời cơ bản, hoặc bản thân các con số trên báo cáo tài chính cũng đã lý giải toàn cục. Nhưng, cho đến nay hẳn nhiều người quan tâm vẫn chưa thực sự thoả mãn nguyên do.
Các con số nói rằng, một ngân hàng thương mại cổ phần đang ở kỳ hoàng kim dẫn đầu lợi nhuận của khối, thương hiệu và vị thế uy tín trên thị trường mạnh, một mẫu hình mà chắc chắn nhiều ngân hàng thương mại khác tham khảo, “bỗng nhiên” có kỳ suy giảm rất nhanh và mạnh như vậy. Công chúng muốn câu trả lời rộng hơn.
Đến nay, bên cạnh nội dung thảo luận các kỳ đại hội đồng cổ đông, câu trả lời mới thực sự được các lãnh đạo chuyên trách các mảng lần lượt ghép lại nội dung, dù có thể có những mảnh thông tin chưa thực sự được nói rõ hết.
Trước tiên, những năm 2012-2013, thị trường chưa quên Techcombank từng điêu đứng với tin đồn có ảnh hưởng rất lớn, mà không chỉ một lần. Lãnh đạo ngân hàng cũng thừa nhận, nó tác động tiêu cực tới tình hình kinh doanh và cả niềm tin đối tác, khách hàng. Nhưng đây không phải là nguyên do chính yếu của một quá trình suy giảm đó.
Sâu xa hơn, một thành viên Ban điều hành Techcombank cho rằng, cần phải nhìn lại quãng 2012-2013 từ những năm 2009-2010.
Thứ nhất là bối cảnh chung. Sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới nổ ra 2008, từ 2009 Việt Nam bắt đầu quá trình kích cầu nền kinh tế. Không riêng Techcombank, nhiều ngành và nhiều doanh nghiệp hào hứng với kích cầu giai đoạn này, đẩy mạnh kinh doanh, bước nhanh và bước mạnh, trong đó có những bước chân tiềm ẩn rủi ro.
“Khủng hoảng kép” là cảnh báo nổi bật giai đoạn đó. Với các ngân hàng, rất cụ thể, từ sau 2011, nợ xấu bắt đầu nổi lên trở thành khó khăn lớn nhất, rủi ro lớn nhất trong hoạt động. Và hầu như tất cả các ngân hàng thương mại đều vấp phải, thể hiện rõ ở những lát cắt sâu về lợi nhuận.
Tại Techcombank, vấn đề trên nổi bật hơn. Tỷ lệ nợ xấu dồn lại và tăng cao, diễn ra khá nhanh, từ dưới 3% lên hơn 3,6% và đỉnh điểm tích tụ tới trên 5% đến giữa năm 2013 - năm trũng nhất của giai đoạn khó khăn đó.
“Thực ra các hoạt động kinh doanh nói chung của Techcombank thời gian đó vẫn giữ nhịp khá tốt, nhưng nhìn vào báo cáo tài chính thì thấy, phần lớn lợi nhuận đã được dồn vào trích lập dự phòng rủi ro”, một thành viên ban điều hành nói.
Cũng theo ý của thành viên này, đó là quãng Techcombank chủ động dừng lại, mà đến nay họ như muốn “cảm ơn” những năm 2012-2013, vì nếu không có sự chủ động dừng lại để tập trung xử lý các rủi ro thì sẽ không có Techcombank đang hồi phục khá mạnh hôm nay.
Một lý do, nhiều năm trước, “Tech” đã rất năng động khai phá những hoạt động, mảng kinh doanh mới, khách hàng mới… Bên cạnh kết quả dẫn đầu hệ thống về thế tấn công này, yếu tố mới vẫn thường tiềm ẩn rủi ro chưa bộc lộ và họ gặp những vấn đề liên quan. Tạm dừng lại để tập trung xử lý. Như nợ xấu là một chỉ tiêu, làm suy giảm rất mạnh về lợi nhuận, nhưng rồi từ mức trên 5% nợ xấu cũng đã được xử lý xuống còn hơn 1,8% đến tháng 9/2016.
Đáng chú ý hơn, theo một thành viên Ban điều hành, đã có một giai đoạn Techcombank say sưa bán hàng, bán mạnh và muốn bán thật nhiều. Để rồi sau đó họ nhận ra cần dừng lại xem xét như vậy đã đúng chưa.
“Chúng ta thấy đấy. Hàng ngày hẳn nhiều người vẫn nhận được nhiều cuộc gọi từ các ngân hàng, cả nội địa lẫn nước ngoài, chào bán sản phẩm. Họ muốn làm sao đẩy mạnh bán được những gì mình có, mà hẳn chúng ta biết là tỷ lệ khách hàng nghe máy hoặc khó chịu là như thế nào”, thành viên trên đặt vấn đề.
Theo ý đó, Techcombank sau khi say sưa bán những gì mình có thì đã dừng lại, như năm 2012-2013, để xem xét. Thay vì cứ đẩy mạnh và tìm cách bán hàng bằng được, bán thật nhiều, thì ngân hàng xác định phải tập trung lại xem khách hàng có hài lòng không, họ cần gì, họ là những ai, mình thiếu gì để điều chỉnh sản phẩm và cách bán cho phù hợp.
Tương tự, chuyện bán hàng ở tín dụng cũng được xem xét lại tổng thể hơn, gắn với nhận diện khách hàng sát thực hơn và tái cơ cấu lại công tác quản trị rủi ro. Đây là một trong những điểm tạm dừng cần thiết trong những năm 2012-2013 để Techcombank tự chấn chỉnh lại.
Và như trên, nếu không có sự chủ động dừng lại và sự suy giảm 2012-2013, để xem xét lại tổng thể các hoạt động, xử lý những rủi ro, định vị lại cơ cấu sản phẩm và chiến lược bán hàng, thì không có Techcombank hồi phục khá mạnh từ đầu 2016 đến nay.
Tổng giám đốc Nguyễn Lê Quốc Anh cho biết, với đà sau 9 tháng và triển vọng quý cuối năm, dự kiến 2016 sẽ là năm đầu tiên sau giai đoạn 2012-2013 nói trên Techcombank sẽ đạt được tất cả các chỉ tiêu đề ra.
Với thị trường, thành viên hiệu quả của khối ngân hàng thương mại cổ phần một thời dường như đang bắt đầu trở lại nhóm đầu của đường đua.
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước thường xuyên đánh giá “điểm cân bằng” giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, điều hành các công cụ chính sách chủ động, linh hoạt, đúng thời điểm, đúng liều lượng...
Từ đầu năm 2026 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã triển khai 618 cuộc thanh tra, ban hành kết luận đối với 438 cuộc, qua đó phát hiện tổng số tiền vi phạm về kinh tế là 562.468 tỷ đồng...
Ngân hàng Nhà nước cho biết đến cuối tháng 6/2026, dư nợ cấp tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản của hệ thống tổ chức tín dụng đạt 5,146 triệu tỷ đồng, tăng 8,3% so với cuối năm 2025 và chiếm 25,5% tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế; nợ xấu tăng 10,5%...
Tạo thêm dư địa tín dụng cho các dự án hạ tầng trọng điểm, có tính lan tỏa là một trong những giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số. Tuy nhiên, theo chuyên gia, vấn đề không chỉ nằm ở quy mô tín dụng được mở rộng, mà quan trọng hơn là tiến độ giải ngân, khả năng cân đối nguồn vốn và kiểm soát dòng tiền sau giải ngân, bảo đảm vốn được sử dụng đúng dự án, đúng mục đích...
Nhu cầu vốn khoảng 1,7 triệu tỷ đồng cho 35 dự án trọng điểm đặt hệ thống ngân hàng trước sức ép lớn khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động và phần lớn nguồn vốn có kỳ hạn ngắn. Vì vậy, vấn đề không chỉ là “có đủ tiền hay không”, mà còn là nguồn vốn nào phù hợp, kỳ hạn bao lâu và rủi ro được phân bổ ra sao...
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Từ vùng đất trước đây chỉ sản xuất lúa 1 vụ/năm với hiệu quả kinh tế bấp bênh, khu đồng Sùng, phố Tân Hồ, phường Đông Tiến, tỉnh Thanh Hóa đang hình thành mô hình kinh tế “3 trong 1” từ cây sen: kết hợp trồng sen làm nguyên liệu, chế biến sản phẩm và phát triển du lịch sinh thái, trải nghiệm. Mô hình hiện mang lại doanh thu hàng trăm triệu đồng/năm.